- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA- Võ Thị Mỹ H - Võ Đình T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày 21/4/2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Ngân
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1204/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ H – Sinh năm 1978
Trú tại: Thôn P1, xã P, thành phố Nh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Đình T− Sinh năm: 1977
Trú tại: Thôn P1, xã P, thành phố Nh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ H trình bày:
Bà và ông Võ Đình T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố Nha Trang năm 1998.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông T ham mê bài bạc, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T không những không thay đổi mà còn hù dọa bà, đập phá đồ đạc trong nhà. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 đến nay. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Võ Đình Ngọc H1, sinh năm 1998 và Võ Thị Thanh Ng, sinh năm 2001. Các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nợ chung, tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Võ Đình T: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với ông T nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của ông Võ Đình T đối với các vấn đề cần giải quyết của vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Mỹ H được ly hôn với ông Võ Đình T; về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là Võ Đình Ngọc H1, sinh năm 1998 và Võ Thị Thanh Ng, sinh năm 2001, các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có nợ chung, tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, bị đơn ông Võ Đình T cư trú tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ H và ông Võ Đình T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 13 tháng 5 năm 1998 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, bà H cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông T không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông T không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng bất hòa, không tìm được tiếng nói chung nên đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T nhiều lần để làm việc, tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ ông T có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình với bà H.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở, phù hợp khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà Võ Thị Mỹ H và ông Võ Đình T có 02 con chung là Võ Đình Ngọc H1, sinh năm 1998 và Võ Thị Thanh Ng, sinh năm 2001. Các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ H xác định vợ chồng không có nợ chung, tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Võ Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ H được ly hôn ông Võ Đình T.
2. Về con chung: Bà Võ Thị Mỹ H và ông Võ Đình T có 02 con chung là Võ Đình Ngọc H1, sinh năm 1998 và Võ Thị Thanh Ng, sinh năm 2001. Các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ H xác định vợ chồng không có nợ chung, tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Võ Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002651 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND TP Nha Trang; - Chi cục THADS TP Nha Trang; - UBND xã P, TP Nha Trang (GCNKH số 10 ngày 13/5/1998) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quỳnh Trang |