vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hoàng M được ly hôn ông Trương Tấn T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hoàng M và ông Trương Tấn T có 02 (hai) con chung tên Trương Nam K, sinh ngày 27/9/2020 và Trương Nam Th, sinh ngày 08/6/2022. Bà Nguyễn Thị Hoàng M được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung Trương Nam K và Trương Nam Th sau khi ly hôn. Ông Trương Tấn T không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hoàng M được ly hôn ông Trương Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 4 năm 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thanh Việt

2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 528/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2023/QĐST-HN, ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng M, sinh năm 1999.

Địa chỉ: khóm ĐT B, phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trương Tấn T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: khóm TH, phường MTh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trương Tấn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên vào ngày 16/10/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì bất hòa, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà M yêu cầu ly hôn ông T.

Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Trương Nam K, sinh ngày 27/9/2020 và Trương Nam Th, sinh ngày 08/6/2022 do bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án ông T mặc dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai ông T vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng M được ly hôn ông Trương Tấn T.

- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Trương Nam K, sinh ngày 27/9/2020 và Trương Nam Th, sinh ngày 08/6/2022 cho bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng, nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T. Ông T cư ngụ tại phường MTh, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà M.

Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Trương Tấn T.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Ông T và bà M tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Thới nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà M trình bày sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà M yêu cầu ly hôn ông T.

Quá trình giải quyết vụ án ông T vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường Mỹ Thới ngày 30/01/2023 thể hiện: Đương sự Trương Tấn T, sinh năm 1994 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm TH, phường MTh, thành phố Long Xuyên. Do ông T vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T biết nhưng ông T vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà M cung cấp và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của bà M.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, thời gian sống ly thân bà M và ông T không quan tâm, không có biện pháp hòa giải, hàn gắn tình cảm khi mâu thuẫn phát sinh. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông T tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M được ly hôn ông T.

. Về con chung: Bà M và ông T có 02 (hai) con chung tên Trương Nam K, sinh ngày 27/9/2020; Trương Nam Th, sinh ngày 08/6/2022 do bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T không tranh chấp quyền nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà M trực tiếp nuôi hai con chung không yêu cầu ông T cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà M phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Bà M trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết. Ông T không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

. Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được từ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hoàng M được ly hôn ông Trương Tấn T.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hoàng M và ông Trương Tấn T có 02 (hai) con chung tên Trương Nam K, sinh ngày 27/9/2020 và Trương Nam Th, sinh ngày 08/6/2022. Bà Nguyễn Thị Hoàng M được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung Trương Nam K và Trương Nam Th sau khi ly hôn.

Ông Trương Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung, do bà Nguyễn Thị Hoàng M không yêu cầu.

Bà M phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Bà M trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoàng M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001173, ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà M đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, Kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ