- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "li hôn"
- Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Minh Hằng.
Ông Nguyễn Văn Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhu Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; đăng ký thường trú: phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1994; nơi thường trú: phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N khởi kiện với nội dung: Chị với anh Nguyễn Ngọc T kết hôn tự nguyện có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 28/12/2016. Sau lễ cưới theo phong tục, chị và anh T chung sống tại phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một con trai. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn ban đầu là do anh T mải vui chơi bạn bè, nhiều lần đêm không về. Chị có góp ý thì anh T không nghe, còn xúc phạm, chửi bới chị. Kinh tế gia đình cũng khó khăn, vợ chồng hay cãi mắng nhau. Anh T còn có quan hệ bất chính với phụ nữ khác. Tháng 10/2020, chị phát hiện anh T đi với người phụ nữ khác, chị đã nói chuyện và bị anh T đánh trước mặt mẹ chồng. Trong gia đình, mẹ chồng lại chiều con trai, không biết khuyên bảo, phân tích cho con trai thay đổi. Giữa chị với mẹ chồng có những mâu thuẫn nhất định nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống. Hai vợ chồng cũng sống ly thân từ thời gian đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 25/01/2017. Hiện anh T đang là người trực tiếp nuôi con. Chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng cho con, chị và anh T sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa chị và anh T.
Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh T không có mặt tại Tòa án và không trình bày quan điểm, ý kiến về việc chị Nguyễn Thị N đề nghị ly hôn và các nội dung liên quan.
Tòa án xác minh tại địa phương và được cung cấp thông tin: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Thị N kết hôn tự nguyện và có đăng ký. Sau khi cưới, anh chị chuyển đến sống tại phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng có mâu thuẫn nên chị N đã đem theo con về nhà mẹ đẻ ở xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống và hiện ly thân với anh T.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị N ly hôn với anh T; giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi; chị N có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Chị Nguyễn Thị N xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T là vụ án Hôn nhân gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T là bị đơn, cư trú tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng nên Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của các đương sự
Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Ngọc T là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung nguyên đơn khởi kiện ly hôn đối với bị đơn
Chị N và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận kết hôn. Kết hôn giữa chị N và anh T là hợp pháp. Do không còn tình cảm vợ chồng, chị N đề nghị ly hôn với anh T. Anh T không đến Tòa án, không trình bày quan điểm, ý kiến về việc chị N đề nghị ly hôn. Qua đó thể hiện anh T không quan tâm đến suy nghĩ, tình cảm của chị N và cũng không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Điều này chứng minh mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị N ly hôn anh T.
Về người trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Ngọc T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 25/01/2017. Chị N đề nghị Tòa án giao con cho anh T trực tiếp nuôi và sẽ tự thỏa thuận với anh T về việc cấp dưỡng cho con. Xét về mặt điều kiện, chị N, anh T đều có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con. Hiện cháu Khang đang được anh T nuôi dưỡng và anh T không có ý kiến về việc người trực tiếp chăm sóc con hay việc yêu cầu chị N phải cấp dưỡng cho con. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, điều kiện, hoàn cảnh của chị N, của anh T, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Nguyễn Ngọc Minh Khang cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc theo các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Xét anh T có đủ khả năng để nuôi con và cũng không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không buộc chị N phải cấp dưỡng.
Về chia tài sản chung
Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu chia tài sản chung, anh Nguyễn Ngọc T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về nghĩa vụ nộp án phí
Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn xin ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Xử:
- Cho chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
- Giao cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017 cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Việc cấp dưỡng cho con, các bên tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004958 ngày 26/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An), chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí.
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND TP. Hải Phòng; - VKSND quận Hải An; - Chi cục THADS quận Hải An; - UBND phường Đông Hải 2, quận Hải An (để ghi vào sổ hộ tịch: Số 48/2016 ngày 28/12/2016); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Phương |