vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trương Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Trương Nguyễn Gia B(Giới tính :nam), sinh ngày 19/4/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung cho anh Trương Văn T cho đến lúc có yêu cầu. Anh Trương Văn T không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:42/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2023
“V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Ông Phan Văn Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:36/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023, về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐST- HNGĐ ngày 03/4/2023 và Quyết định Hoàn phiên tòa số 19/2023/QĐ-HPT, ngày 14/4/2023, giữa các đương sự.

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, Sinh ngày 06/8/2000. (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Xóm 7, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

-Bị đơn: Anh Trương Văn T, Sinh ngày 10/02/1991.

Địa chỉ thường trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An

(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai của nguyên đơn và trình bày của chị Nguyễn Thị H tại phiên tòa thì vụ án có nội dung.

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trương Văn T cưới nhau vào tháng 5/2021. Trước khi cưới anh chị có quá trình tìm hiểu, hôn nhân trên cơ sở tình yêu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Chị H, Anh T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67, ngày 25/5/2021. Sau khi kết hôn thì đến tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T cho rằng chị H có quan hệ ngoài luồng, thai nhi chị H đang mang là của người khác, nên vợ chồng đã xẩy ra xung đột ngày càng sâu sắc. Không sống được với anh T, Chị H đã về bên ngoại tại xã Đ sống ly thân đối với anh T từ tháng 10/2021 đến nay. Chị H xác định do vợ chồng không tin tưởng nhau trong lĩnh vực tình cảm, nên hôn nhân giữa chị và anh T không thể duy trì, mặc dù chị đã giải thích cho anh T về sự chung thủy của chị đối với anh T trong quá trình yêu đương cũng như quá trình sống chung. Do vậy chị H đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh Trương Văn T để ổn định cuộc sống.

-Về quan hệ con chung: Vợ chồng có con 01 con chung cháu Trương Nguyễn Gia B(Giới tính :nam), sinh ngày 19/4/2022. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nuôi dưỡng, Anh T không có trách nhiệm gì đối với con chung. Chị H đề nghị giao con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trương Văn T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh T không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Nguyễn Thị H, anh Trương Văn T cơ bản đúng như nguyên đơn đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú xã T và xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn anh Trương Văn T vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự.Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Trương Văn T.

Nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H, anh Trương Văn T đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chị H, Anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn 67, ngày 25/5/2021 nên xác định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Văn T là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa Chị H, anh T tan rã, đổ vỡ là do quá trình sống chung anh T không tin tưởng chị H trong lĩnh vực tình cảm nghi ngờ chị H có quan hệ ngoài luồng dẫn đến có thai. Chị H đã về bên ngoại sống ly thân cắt đứt các quan hệ đối với anh T từ tháng 10/2021. Trong thời gian sống ly thân chị H đã liên lạc, có gắng giải thích để anh T hiểu rỏ thai nhi chị đang mang trong người là của vợ chồng không phải của ai khác, cần thiết thì giám định ADN, nhưng anh T không chịu nghe, mà cắt đứt các quan hệ vợ chồng đối với chị H. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Văn T đã thực sự tan rã, đổ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm không còn. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được được ly hôn anh Trương Văn T là có cơ sở đúng pháp luật, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trương Văn T.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung cháu Trương Nguyễn Gia B(Giới tính :nam), sinh ngày 19/4/2022, con chung hiện nay đang được chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T không có trách nhiệm gì đối với con chung. Do con chung đang dưới 03 năm tuổi, chị H đề nghị giao con cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho con chung, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Nguyễn Thị H.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trương Văn T.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Trương Nguyễn Gia B(Giới tính :nam), sinh ngày 19/4/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung cho anh Trương Văn T cho đến lúc có yêu cầu.

Anh Trương Văn T không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm.

Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Nguyễn Thị H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền án phí ly hôn sơ thẩm của chị H được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số:0000577 ngày 30/01/2023, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã T, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ