vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn thị Nhân-Phan Văn Khánh"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04-4-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Bà Trịnh Ngọc Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Phan Văn K, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Năm 2007 chị và anh Phan Văn K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không hợp về tính cách nên thường xuyên bất đồng ý kiến, anh K ham mê cờ bạc dẫn đến nợ nần. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phan Văn K; Về con chung, có 02 con chung tên Phan Kiều Duyên, sinh ngày 25/01/2008 và Phan Duy Khôi, sinh ngày 15/6/2013. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, chị N có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

* Đối với bị đơn anh Phan Văn K, Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh K từ chối nhận các văn bản tố tụng của Toà án và vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Phan Văn K, địa chỉ ấp 3, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N và anh K.

Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa chị N với anh K là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị N yêu cầu ly hôn vì vợ chồng chung sống không hòa hợp, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh K ham mê cờ bạc. Anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập tham gia phiên hòa giải nhưng anh K không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị N. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa anh K và chị N đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị N với anh K ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy 02 người con chung tên Phan Kiều Duyên và Phan Duy Khôi hiện đang sống chung với chị N và 02 cháu có nguyện vọng sống chung với chị N. Mặt khác, anh K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị N. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định về mặt tâm sinh lý nên Hội đồng xét xử giao 02 người con chung tên Phan Kiều Duyên và Phan Duy Khôi cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh K không có yêu cầu đối với tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này các bên có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 217; điểm a, b, khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N với anh Phan Văn K.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Phan Kiều Duyên, sinh ngày 25/01/2008 và Phan Duy Khôi, sinh ngày 15/6/2013 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 13 tháng 02 năm 2023 chị N đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010951 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm chị Nguyễn Thị N, anh Phan Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ