vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Trần Thị L đối với anh Nguyễn Văn B. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L - Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S
TỈNH TUYÊN QUANG
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22/5/2023
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Vượng.

2. Ông Ma Quốc Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.

Ngày 22/5/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 566/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L – Sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B – Sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt (Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị L có quan điểm trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 31/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống, thời gian vợ chồng chung sống hạnh cháu P, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là từ đầu năm 2017, anh B nghiện ma túy, gia đình đã khuyên nhủ anh B nhiều lần nhưng anh B không nghe; vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị L đã chuyển về sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở thôn Bình Ca, xã Vĩnh Lợi, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và sống ly thân với anh B từ đầu năm 2022 đến nay. Chị L xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh B ly hôn với nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị L và anh B có hai con chung.

- Cháu Nguyễn Phi H – Sinh ngày: 25/11/2007.

- Cháu Nguyễn Văn P – Sinh ngày: 25/5/2018.

Sau khi ly hôn, chị L có quan điểm sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H và cháu Cháu P khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh Nguyễn Văn B nhiều lần nhưng anh B không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Qua xác minh cho thấy, anh Nguyễn Văn B là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Mâu thuẫn gia đình là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kinh tế gia đình; vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau; gia đình và chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chị L, anh B nhưng không thành. Chị L đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2022 và sống ly thân với anh B cho đến nay. Hiện tại, anh B đi làm ăn, không có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng anh B có về thăm nhà, sau đó lại đi ngay. Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tòa án không tiến hành mở phiên hòa giải được vì anh Nguyễn Văn B vắng mặt (đã được triệu tập hợp lệ). Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Bị đơn không chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc giải quyết vụ án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Trần Thị L đối với anh Nguyễn Văn B.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phi H – Sinh ngày: 25/11/2007 và cháu Nguyễn Văn P – Sinh ngày: 25/5/2018 cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H và cháu Cháu P trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

5. Về án phí; Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.

- Về quan hệ tranh chấp: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị L khởi kiện về việc xin ly hôn với anh B và yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Do đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Văn B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 31/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau. Lý do mâu thuẫn là do vợ, chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong việc làm ăn kinh tế, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau.

HĐXX thấy rằng, thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh B cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể khắc phục được nữa, vợ chồng ly thân với nhau một thời gian nhưng chị L và anh B cũng không thể hòa giải, hàn gắn để quay về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh B là có căn cứ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị L và anh B có hai con chung.

- Cháu Nguyễn Phi H – Sinh ngày: 25/11/2007.

- Cháu Nguyễn Văn P – Sinh ngày: 25/5/2018.

Chị L có nguyện vọng, nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H và cháu Cháu P.

HĐXX nhận thấy: Cháu H và cháu Cháu P đang ở độ tuổi rất cần sự quan tâm, giáo dục một cách thường xuyên của cha, mẹ để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Quá trình nuôi con, chị L không vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của con. Chị L có nơi cư trú rõ ràng; công việc, thu nhập ổn định, vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung ăn học đầy đủ nên đảm bảo được về thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập cho con. Anh B đi làm ăn ở xa, thường xuyên vắng mặt khỏi nơi cư trú nên không đảm bảo được việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Cháu H có quan điểm muốn được ở cùng mẹ là chị L, phù hợp với quan điểm của chị L.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, để ổn định cuộc sống, không làm xáo trộn môi trường sống và học tập của cháu H và cháu Cháu P, cần chấp nhận nguyện vọng của chị Trần Thị L về việc nuôi con chung. Giao cháu H và cháu Cháu P cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 3 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Trần Thị L đối với anh Nguyễn Văn B.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phi H – Sinh ngày: 25/11/2007 và cháu Nguyễn Văn P – Sinh ngày: 25/5/2018 cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H và cháu Cháu P trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 22/5/2023. Anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số AA/2021/0002520 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Chị Trần Thị L đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ