vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Trương Xuân Đ ly hôn chị Nguyễn Thị Đ.

Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 cho chị Nguyễn Thị Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trương Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Buộc anh Trương Xuân Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Xuân Đ - Nguyễn Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Trương Xuân Đ ly hôn chị Nguyễn Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL– TỈNH BL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Nhƣ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Hƣởng

2. Ông Đặng Văn Chiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PLxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trƣơng Xuân Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn ĐT, xã P, huyện H, tỉnh ĐN. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp VPA, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Trương Xuân Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Đ tự nguyện sống chung từ năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VPĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2021 do sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị Đ.

Về con chung: Anh và chị Đ có một người con chung là Trương Nguyễn Sinh H, sinh ngày 11/6/2017, hiện đang sống với chị Đ. Anh Đ yêu cầu giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh Đ được ly hôn với chị Đ.

+ Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 cho chị Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Đ có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Anh Trương Xuân Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/4/2023).

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Đ, chị Đ đang cư trú trên địa bàn huyện PLnên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PLthụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh Đ và chị Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Anh Đ và chị Đ tự nguyện sống chung từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị Đ là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, anh Đ và chị Đ đã ly thân từ năm 2021, xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng anh Đ và chị Đ không sống chung với nhau trong một thời gian dài mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập chị Đ nhiều lần nhưng chị Đ vẫn không đến, như vậy chị Đ đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của anh Đ và chị Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ, cho anh Đ ly hôn với chị Đ.

Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của anh Đ thì anh Đ và chị Đ có một người con chung là Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017, hiện đang sống với chị Đ. Anh Đ yêu cầu giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi. Chị Đ đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu giao con chung của anh Đ nhưng chị Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh Đ. Xét thấy, cháu H sống cùng với chị Đ từ khi anh Đ và chị Đ ly thân đến nay và anh Đ cũng thừa nhận, hiện tại cháu H phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu H, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ: Giao cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 cho chị Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trương Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo quy định pháp luật nên được chấp nhận. Theo quy định pháp luật thì mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn ½ mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng/tháng). Do đó, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 với mức cấp dưỡng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/4/2023).

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Chị Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Trương Xuân Đ ly hôn chị Nguyễn Thị Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 cho chị Nguyễn Thị Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trương Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Trương Xuân Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trương Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/6/2017 với mức cấp dưỡng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/4/2023).

4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Anh Trương Xuân Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng. Anh Đ đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012553 ngày 16/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PLnên được chuyển sang thu án phí và anh Đ còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ