vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Cho Chị Bùi Thị H ly hôn với anh Đinh Văn H. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án sô 42"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v: Ly hôn, giải quyết về con chung khi
ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Ông Bùi Khắc Thái.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 154/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐ-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Đ,xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Đinh Văn H, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Chị Hvắng mặt, anh Hcó mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2023, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn Chị Bùi Thị H trình bày:

Về diễn biến quan hệ hôn nhân và gia đình: Chị và anh Đinh Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph vào ngày 10/3/2011, sau khi cưới anh chị sinh sống tại Thôn 6, xã Ph cùng mẹ anh H. Anh chị chỉ hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Hchơi bời, sa ngã vào tệ nạn xã hội, anh Hnghiện ma túy đã phải đi tù nhiều lần. Hiện anh Hđang phải chấp hành án 21 tháng về tội ma túy tại Trại Giam Xuân Hà tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị xét thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với anh Hnên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hvì chị xác định chị không còn tình cảm với anh H.

Về con chung: Chị và anh Hcó 01 con chung là cháu Đinh Tiến Dsinh ngày 25/7/2011, hiện cháu đang ở với chị. Do anh Hđang phải đi chấp hành án không đủ điều kiện nuôi con nên nếu Tòa án giải quyết cho chị và anh Hly hôn chị xin tiếp tục nuôi cháu và không yêu cầu anh Hcấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến anh Đinh Văn H thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 04/8/2023: Anh xác định thời điểm kết hôn và chung sống như Chị Htrình bày là đúng. Tuy nhiên anh không biết vì lý do gì mà Chị Hxin ly hôn với anh, nay Chị Hxin ly hôn với anh thì anh không đồng ý. Về con chung: Anh xác định anh và Chị Hcó 01 con chung là cháu Đinh Tiến Dsinh ngày 25/7/2011, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh xin được nuôi cháu Dũng và không yêu cầu Chị Hcấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: anh không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến cháu Đinh Tiến Dũng: Xin tiếp tục ở với mẹ.

Tại biên bản xác minh ngày 07/7/2023, Ủy ban nhân dân xã Ph cung cấp như sau: Chị Bùi Thị H và anh Đinh Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph vào ngày 10/3/2021. Sau khi cưới, anh Hvà Chị Hsinh sống cùng bố mẹ anh Htại Thôn 6, xã Ph, huyện N. Nguyên nhân chính dẫn đến việc Chị Hlàm đơn xin ly hôn với anh Hlà do anh Hchơi bời, sa ngã vào tệ nạn xã hội dẫn đến việc phạm tội và phải đi chấp hành án. Chị Hlà lao động tự do tại địa phương. Trong quá trình sinh sống tại xã Ph, huyện N, Chị Hchấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật và quy ước thôn xóm, đủ sức khỏe và các điều kiện khác để chăm sóc cháu Đinh Tiến Dũng. Ủy ban xã đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.

Tại đơn xin xử vắng mặt, Chị Hvẫn giữ nguyên quan điểm như quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa anh Hcó ý kiến: anh đồng ý ly hôn với chị Hạnh, tuy nhiên về con chung anh vẫn giữ quan điểm xin nuôi cháu Đinh Tiến Dvà không yêu cầu Chị Hcấp dưỡng nuôi con chung

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.

- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là“Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.

- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều72 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Bùi Thị H. Xử ly hôn giữa Chị Bùi Thị H và anh Đinh Văn H.

2.Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Đinh Tiến Dsinh ngày 25/7/2011 cho Chị Htiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và tự lập. Anh Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hạnh.

3. Về án phí ly hôn: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

. Về hôn nhân:

Chị Hvà anh Hkết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, vì vậy hôn nhân giữa Chị Hvà anh Hlà quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, nguyên nhân chính là do anh Hchơi bời sa ngã vào tệ nạn xã hội phải đi chấp hành án nhiều lần. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Hvới anh Hlà có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về nuôi con chung: Chị Hvà anh Hcó 01 con chung là cháu Đinh Tiến Dsinh ngày 25/7/2011. Nguyện vọng của cả hai bên đều xin được nuôi cháu và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Hkhỏe mạnh, có thu nhập, anh Htại thời điểm chuẩn bị xét xử đang phải đi chấp hành án, tuy nhiên đến phiên tòa lần hai anh đã chấp hành xong, tuy nhiên với điều kiện của anh Hvừa đi thi hành án về hiện chưa có công ăn việc làm vì vậy không đảm bảo để chăm sóc mọi mặt cho cháu Dũng. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định cho cháu cũng như đảm bảo quyền và lợi ích cho cháu nên tiếp tục giao cháu Dũng cho Chị Hchăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Do Chị Hkhông yêu cầu anh Dũng cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nên không đặt ra việc xem xét giải quyết trong vụ án này.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng: - Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho Chị Bùi Thị H ly hôn với anh Đinh Văn H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cháu Đinh Tiến Dsinh ngày 25/7/2011, cho Chị Bùi Thị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác.

2.2. Anh Đinh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hạnh.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị Hđã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0000268 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ