vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không công nhận chị Nguyễn Thị Quyền Ch và anh Nguyễn Văn Th là vợ chồng.

[2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th được tiếp tục nuôi Nguyễn Phước Th1 (giới tính nam), sinh ngày 25/01/2013 và Nguyễn Phú Th2 (giới tính nam), sinh ngày 22/5/2019. Chị Nguyễn Thị Quyền Ch chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Quyền Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn."
  • Tòa quyết gì? [1] Không công nhận chị Nguyễn Thị Quyền Ch và anh Nguyễn Văn Th là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/7/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung, thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út

Ông Nguyễn Văn Trưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quyền Ch, sinh năm: 1991 (có mặt).

Địa chỉ: khu vực A, phường T, thị xã M, tỉnh HG

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1981 (có mặt).

Địa chỉ: khu vực A, phường T, thị xã M, tỉnh HG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quyền Ch trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, chị Ch và anh Th đã thống nhất ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2015/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (gọi tắt là Quyết định số 36/2015/QĐST-HNGĐ). Sau đó, anh chị đã tiếp tục sống chung như vợ chồng, có con chung nhưng không đăng ký kết hôn.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị Ch yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị Ch và anh Th là vợ chồng.

Về con chung: Chị Ch và anh Th có 02 con chung Nguyễn Phước Th1 (giới tính nam), sinh ngày 25/01/2013 và Nguyễn Phú Th2 (giới tính nam), sinh ngày 22/5/2019.

Đối với Nguyễn Phước Th1 theo Quyết định số 36/2015/QĐST-HNGĐ chị Ch được quyền trực tiếp nuôi. Đối với Nguyễn Phú Th2 được sinh ra sau thời điểm chị Ch và anh Th ly hôn theo Quyết định nêu trên. Hiện nay, con chung đang sống chung với anh Th nên thống nhất để hai con chung tiếp tục sống chung với anh Th, chị Ch chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Anh Th thống nhất phần trình bày của chị Ch về thời gian đăng ký kết hôn. Anh Th thống nhất ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung như chị Ch trình bày. Hiện nay, 02 con chung đang sống chung với anh Th nên yêu cầu tiếp tục nuôi con. Anh Th chưa yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Long Mỹ nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1, khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, chị Ch và anh Th đã thống nhất ly hôn Quyết định số 36/2015/QĐST-HNGĐ, tuy nhiên, sau đó anh chị lại tiếp tục sống chung từ tháng 7/2015, có con chung nhưng không đăng ký kết hôn. Điều này cũng phù hợp với xác nhận ngày 03/4/2023 của Ủy ban nhân dân phường Bình Thạnh. Quá trình chung sống sau khi ly hôn thời gian đầu cuộc sống anh chị hạnh phúc và có con chung nhưng dần về sau xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh chị đã không còn sống chung từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Ch cương quyết yêu cầu được ly hôn, anh Thống cũng thống nhất. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận không công nhận chị Nguyễn Thị Quyền Ch và anh Nguyễn Văn Th là vợ chồng.

Về con chung: Chị Ch và anh Th có 02 con chung tên Nguyễn Phước Th1 (giới tính nam), sinh ngày 25/01/2013 và Nguyễn Phú Th2 (giới tính nam), sinh ngày 22/5/2019. Đối với Nguyễn Phước Th1 theo Quyết định số 36/2015/QĐST-HNGĐ chị Ch được quyền trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, trong vụ án này, chị Ch và anh Th thống nhất thay đổi người trực tiếp nuôi con từ chị Ch sang cho anh Th. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với Nguyễn Phú Th2 được sinh ra sau thời điểm chị Ch và anh Th ly hôn theo Quyết định số 36/2015/QĐST-HNGĐ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con…”. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ch và anh Th thống nhất để Phú Th2 tiếp tục sống chung với anh Th nên được chấp nhận.

Anh Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét; Chị Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Quyền Ch phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Không công nhận chị Nguyễn Thị Quyền Ch và anh Nguyễn Văn Th là vợ chồng.

[2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th được tiếp tục nuôi Nguyễn Phước Th1 (giới tính nam), sinh ngày 25/01/2013 và Nguyễn Phú Th2 (giới tính nam), sinh ngày 22/5/2019. Chị Nguyễn Thị Quyền Ch chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Quyền Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quyền Ch phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0004607 lập ngày 04 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Chị Nguyễn Thị Quyền Ch đã nộp xong án phí.

[5] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quyền Ch, bị đơn anh Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ