vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Trần Thị Kim V được ly hôn với anh Võ Thanh H. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Võ H T, sinh ngày 25/4/2011 và cháu Võ Quốc B, sinh ngày 02/01/2015 cho chị Trần Thị Kim V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH B PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23-6-2023
Về việc: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH B PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Viết Xứng

Ông Vũ Trung Thành

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án, giữa:

*Nguyên đơn: Trần Thị Kim V, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ 25, khu phố L, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B.(xin vắng mặt)

*Bị đơn: Võ Thanh H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ 25, khu phố L, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Trần Thị Kim V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim V và anh Võ Thanh H chung sống với nhau một cách tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2010.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường xuyên uống rượu, say xỉn về nhà gây sự với vợ con, chửi bới, hù dọa vợ con, không lo tu chí làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình làm cho cuộc sống gia đình luôn bất hòa, không có hạnh phúc. Bản thân chị V đã nhiều lần khuyên bảo và tha thứ nhưng anh H vẫn không thay đổi, làm cho cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc. Nay, chị V xác định tình cảm vợ cH đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Võ Thanh H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chị V có 02 con chung tên là cháu Võ H T, sinh ngày 25/4/2011 và cháu Võ Quốc B, sinh ngày 02/01/2015. Chị V yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

-Bị đơn anh Võ Thanh H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thâm nhân dân, Thư ký Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim V với anh Võ Thanh H; giao 02 con chung là Võ H T, sinh ngày 25/4/2011 và Võ Quốc B, sinh ngày 02/01/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm nom, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1.Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Trần Thị Kim V yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nuôi con chung với anh Võ Thanh H. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là anh Võ Thanh H cư trú tại tổ 25, khu phố L, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các Thông báo, Quyết định tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh Võ Thanh H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do. Xét cần áp dụng Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp.

3. Yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim V và anh Võ Thanh H chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Q vào năm 2010 (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 51, ngày 20/9/2010). Xét đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không có sự tin tưởng, chia sẻ, quan tâm, anh H không lo làm ăn và không quan tâm đến gia đình nên dẫn đến vợ chồng sống không có hạnh phúc. Chị V và anh H không tìm được cách giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng sống ly thân và ly hôn. Chị V xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết nên cương quyết xin ly hôn với anh H. Về phía anh Võ Thanh H, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần để hòa giải, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng giữa các bên nhưng anh H không tham gia, chứng tỏ anh H không có thiện chí cùng chị V đoàn tụ gia đình. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử cho chị Trần Thị Kim V được ly hôn với anh Võ Thanh H là phù hợp.

Về con chung: Có 02 con chung tên là cháu Võ H T, sinh ngày 25/4/2011 và cháu Võ Quốc B, sinh ngày 02/01/2015. Chị V có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Xét yêu cầu của chị V là có cơ sở được chấp nhận, bởi lẽ các cháu T và B còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, chị V có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Đối với cháu T có nguyện vọng được sống cùng anh H, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh H không tham gia và cũng không có ý kiến bằng văn bản thể hiện nguyện vọng được nuôi con của mình, như vậy chứng tỏ anh H cũng không có thiện chí nuôi con; Hơn nữa chị V cho rằng trên thực tế chỉ có chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con, anh H không lo làm ăn, thường hay theo bạn bè rượu chè say sỉn, bỏ bê con cái nếu giao con cho anh H trực tiếp nuôi cũng không đảm bảo nên cần áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cả hai con cho chị V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con chung gây cản trở đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung của người trực tiếp nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích tốt nhất về mọi mặt của các con, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viên kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 14, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Trần Thị Kim V được ly hôn với anh Võ Thanh H.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Võ H T, sinh ngày 25/4/2011 và cháu Võ Quốc B, sinh ngày 02/01/2015 cho chị Trần Thị Kim V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018916 ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ