- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Dương Thị Mai Th tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Trần Thị Tuyết V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Dương Thị Mai Th và ông Võ Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Trần Thị Tuyết V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/DS-ST Ngày: 25-5-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Đức Huy.
2. Ông Trịnh Thế Phương Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Vào ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mai Th, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp 3, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết V, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp 3, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn H, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp 3, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An.
(Tất cả có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị Mai Th trình bày:
Do cùng chung lối xóm với bà Trần Thị Tuyết V nên giữa bà Th và bà V có quan hệ vay mượn, cụ thể:
Vào ngày 08/3/2021 (âm lịch) tại nhà bà Th, bà Th có cho bà Trần Thị Tuyết V vay số tiền 30.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay và bà V ký ghi rõ họ tên vào giấy vay, lãi suất hai bên tự thỏa thuận ngoài, mục đích bà V vay tiền về để chăn nuôi heo, thời hạn vay là 03 tháng.
Tiếp đến vào ngày 21/3/2021 (âm lịch) tại nhà bà Th, bà Th có cho bà Trần Thị Tuyết V vay số tiền 100.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay và bà V ký ghi rõ họ tên vào giấy vay, lãi suất hai bên tự thỏa thuận ngoài, mục đích bà V vay tiền về để chăn nuôi heo, thời hạn vay là 03 tháng.
Bà V có trả cho bà Th được số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng, hiện bà V còn nợ bà Th số tiền gốc vay là 120.000.000 đồng chưa trả được.
Nay đã quá thời hạn trả nhưng bà Trần Thị Tuyết V chưa trả cho bà Th số tiền gốc vay là 120.000.000 đồng.
Do đó, bà Dương Thị Mai Th khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết buộc bà Trần Thị Tuyết V trả một lần cho bà Dương Thị Mai Th số tiền vay gốc 120.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà Th không đồng ý cho bà V trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ 120.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Tuyết V trình bày:
Bà Trần Thị Tuyết V hiện độc thân, bà có chồng và một người con nhưng đã mất.
Bà V thừa nhận có vay của bà Dương Thị Mai Th tổng số tiền 130.000.000 đồng bà V có trả cho bà Th được 10.000.000 đồng, hiện còn nợ số tiền 120.000.000 đồng chưa trả được như lời trình bày của bà Th nêu trên.
Nhưng nay do làm ăn khó khăn, bà V không đủ khả năng trả một lần số tiền 120.000.000 đồng cho bà Th, bà V xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ 120.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 16/5/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H trình bày:
Ông H là chồng bà Dương Thị Mai Th, hiện quan hệ hôn nhân còn tồn tại. Vào các ngày 08/3/2021 (âm lịch) và ngày 21/3/2021 (âm lịch) tại nhà bà Th, bà Th có cho bà Trần Thị Tuyết V vay tổng số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), khi vay có làm giấy tay và bà V ký ghi rõ họ tên vào giấy vay, lãi suất hai bên tự thỏa thuận ngoài, mục đích bà V vay tiền về để chăn nuôi heo, thời hạn vay là 03 tháng. Nay đã quá thời hạn trả nhưng bà Trần Thị Tuyết V chỉ mới trả cho bà Th 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), còn nợ lại số tiền gốc vay là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Số tiền bà Th cho bà V vay là tiền chung của ông và bà Th. Nay ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà Th, cụ thể: Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết buộc bà Trần Thị Tuyết V trả một lần cho bà Th và ông H số tiền vay gốc 120.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Không đồng ý cho bà V trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ 120.000.000 đồng
Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Dương Thị Mai Th khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Tuyết V có trách nhiệm hoàn trả số tiền vay là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Bà Trần Thị Tuyết V có hộ khẩu thường trú tại xã MP, huyện TT, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Căn cứ theo yêu cầu của đương sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng hoà giải không thành. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Dương Thị Mai Th khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Tuyết V có trách nhiệm hoàn trả một lần số tiền vay 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Xét lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào các ngày 08/3/2021 (âm lịch) và ngày 21/3/2021 (âm lịch) tại nhà bà Th, bà Th có cho bà Trần Thị Tuyết V vay tổng số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), khi vay có làm giấy tay và bà V ký ghi rõ họ tên vào giấy vay, lãi suất hai bên tự thỏa thuận ngoài, mục đích bà V vay tiền về để chăn nuôi heo, thời hạn vay là 03 tháng. Nay đã quá thời hạn trả nhưng bà Trần Thị Tuyết V chỉ mới trả cho bà Th 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), còn nợ lại số tiền gốc vay là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Dương Thị Mai Th trình bày số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) cho bà V vay là tiền chung của vợ chồng bà Th và ông Võ Văn H, ông H trình bày thống nhất ý kiến của bà Th và yêu cầu bà V trả số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) cho vợ chồng ông là phù hợp quy định và không vượt quá yêu cầu khởi kiện.
Bà Trần Thị Tuyết V thừa nhận còn nợ Bà Dương Thị Mai Th 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) chưa trả được như lời trình bày của bà Th, nhưng nay do làm ăn khó khăn, bà V không đủ khả năng trả một lần số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) cho bà Th, ông H, bà V xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Tuy nhiên bà Th, ông H không đồng ý cho bà V trả dần và theo quy định của pháp luật không có quy định cho trả dần.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy mượn tiền ngày ngày 08/3/2021 (âm lịch) và ngày 21/3/2021 (âm lịch) buộc bà Trần Thị Tuyết V có trách nhiệm hoàn trả cho bà Dương Thị Mai Th và ông Võ Văn H số tiền vay còn nợ 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bà Dương Thị Mai Th, ông Võ Văn H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Bà Dương Thị Mai Th không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí mà bà Th đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Dương Thị Mai Th và ông Võ Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Trần Thị Tuyết V.
Buộc bà Trần Thị Tuyết V có trách nhiệm hoàn trả cho bà Dương Thị Mai Th và ông Võ Văn H số tiền vay 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị Tuyết V phải nộp 6.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Dương Thị Mai Th 3.000.000 đồng tiền tạm ứng phí theo biên lai thu số 0003913 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.
Án xử sơ thẩm công khai, bà Dương Thị Mai Th, ông Võ Văn H và bà Trần Thị Tuyết V có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/5/2023).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An, - VKSND huyện TT, - Chi cục THA huyện TT, - Các đương sự, - Lưu HS, - Lưu án văn. TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TT TỈNH LONG AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút, ngày 12 tháng 9 năm 2022 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh Long An Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Diễm Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa: 1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mai Th, sinh năm: 1961 thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Minh Tâm, sinh năm: 1965 Chí Minh Văn bản ủy quyền ngày: 08/01/2022 (vắng mặt). 2. Bị đơn: Trần Thị Tuyết Vân, sinh năm: 1970 Địa chỉ: ấp Bà Mía xã Mỹ Lạc huyện TT tỉnh Long An (vắng mặt). 1977 Địa chỉ: ấp Bà Mía xã Mỹ Lạc huyện TT tỉnh Long An (vắng mặt). tụng tại phiên tòa. 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468, 471Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án. Tuyên xử: chấp hợp đồng vay tài sản” đối với Trần Thị Tuyết Vân. Th số tiền vay 206.720.000 đồng (hai trăm lẻ sáu triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng) và tiền lãi 39.291.256 đồng (ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, hai trăm năm mươi sáu đồng), tổng cộng số tiền 246.011.256 đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu, không trăm mười một ngàn, hai trăm năm mươi sáu đồng). hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015. đồng án phí dân sự sơ thẩm. án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm sau khi nghị án thống nhất biểu quyết 3/3. Nghị án kết thúc lúc giờ phút, ngày 12 tháng 9 năm 2022. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Năm Phạm Quốc Tuấn | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà Nguyễn Đức Quân Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc Ông Phạm Quốc Tuấn Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 123/2022/TLST-DS ngày 06 tháng Địa chỉ: số 132 Liên khu 5-6 phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Địa chỉ: 125/75 Bùi Đình Túy phường 24 quận Bình Thạnh thành phố Hồ 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 266, 267, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Dương Thị Mai Th về việc “Tranh Buộc Trần Thị Tuyết Vân có trách nhiệm hoàn trả cho Bà Dương Thị Mai Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Trần Thị Tuyết Vân phải nộp 12.300.000 Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Diễm |