vanban.org

Bản án 42/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HSST
Ngày: 22/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Chuyên viên phòng giáo dục đào tạo huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Ông Nguyễn Khắc Hải – Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST-HS, ngày 30 tháng 3 năm 2022; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/HSST-QĐ, ngày 13/5/2022; quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/HSST-QĐ, ngày 10/6/2022; quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/HSST-QĐ, ngày 27/6/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trƣơng Ngọc C; sinh ngày: 16/8/1988; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình C1 và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Vũ Thị Mai S; Con: 02 đứa (đầu sinh năm 2014, út sinh năm 2020); Anh chị em ruột có 04 người bị cáo là con thứ 04; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2022 đến ngày 15/02/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vũ Trần Đình Đ; sinh ngày: 22/6/2004; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T1, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng H và bà Trần Thị P; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 03 người bị cáo là con thứ 02; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/01/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ và cũng là người

đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp anh Vũ Hồng H (theo văn bản ủy quyền ngày 28/01/20212): Chị Trần Thị P, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Thôn T1, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ: Bà Đinh Thị H1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện trường THPT C: Ông Võ Khắc Q. Chức danh: Giáo viên trường THPT C. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: - Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Vũ Thị Mai S, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh

Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Ngọc C, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh làm việc bốc vác tại khu vực cửa khẩu Quốc tế C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình làm việc ở đây, C biết được có một số người Lào (C không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đưa Pháo sang Việt Nam để bán. Do có nhu cầu muốn mua pháo để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, nên đầu tháng 01 năm 2022, C tìm và gặp một nam thanh niên người Lào mua 02 hộp pháo nổ loại mỗi hộp 36 quả với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được pháo C đưa về nhà ở của mình cất giấu 01 hộp ở vị trí trên trần nhà phía bên phải, còn 01 hộp C cho em vợ của mình là Vũ Trần Đình Đ, sinh ngày 22/6/2004, trú tại thôn T1, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Đàn đã cất giấu hộp pháo này ở trên tủ gỗ gian nhà chính.

Sáng ngày 24/01/2022, C tiếp tục đi làm tại khu vực cửa khẩu C, C gặp lại nam thanh niên người Lào lần trước và mua của người này 07 hộp pháo nổ loại pháo hoa 36 quả được đựng trong một thùng cát tông với giá 2.800.000 đồng. Sau khi mua được, C cất giấu thùng cát tông đựng pháo trong bụi cây bên lề đường Quốc lộ 8A tại khu vực N, thuộc xã S1, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng chiều tối ngày 24/01/2022, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh, biển kiểm soát 38H1-094B của mình đến nhà Vũ Trần Đình Đ, rủ Đ đi lên khu vực nước sốt, thuộc xã S1, lấy pháo cùng mình, thì Đ đồng ý, rồi cả hai đi lên khu vực N bằng xe mô tô của C. Khi đến nơi, C đi lại vị trí bụi cây lấy một thùng cát tông, bên trong đựng 07 hộp pháo đưa lại cho Đ. Đ ngồi sau ôm thùng cát tông, C điều khiển xe mô tô chở Đ đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe mô tô BKS 38H1-094B đi đến khu vực thuộc thôn T, xã S2 thì bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện, C và Vũ Trần Đình Đ đang ôm giữ 01 thùng cát tông bên trong có 07 hình hộp chữ nhật, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều họa tiết, hoa văn nhiều màu sắc. Lúc này, C và Vũ Trần Đình Đ khai nhận 07 khối hình hộp trên là pháo hoa nổ do C mua và cùng Đ đưa về để sử dụng trong dịp tết. Lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật cùng phương tiện.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C, phát hiện phía trên trần nhà phía bên phải hướng từ trong nhà ra có 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12,5)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài và chỗ ở của Vũ Trần Đình Đ phát hiện trên tủ gỗ để ở gian nhà chính có 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài.

Tại Bản kết luận giám định số 92/GĐP-PC09 ngày 27/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận:

+ 01 hình hộp chữ nhật, kích thước (14,5x14,5x12,5)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn, họa tiết và chữ nước ngoài, trong khối hộp có 36 vật hình trụ tròn bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 1,52 kg .

+ 06 hình hộp chữ nhật, kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn, họa tiết và chữ nước ngoài trong khối hộp có 36 vật hình trụ tròn bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 7,6 kg .

+ 01 khối hình hộp có kích thước (15x15x 12,5)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, trong khối hộp có 36 vật hình trụ tròn bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 1,58 kg .

+ 01 khối hình hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài trong khối hộp có 36 vật hình trụ tròn bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 1,2 kg.

* Vật chứng vụ án: - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu xanh, biển kiểm soát 38H1-094B, số khung: 271218, số máy: 271231. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, trên xe không có tài sản gì.

- Một thùng cát tông đã được niêm phong, bên trong có 09 (chín) hộp pháo nổ loại pháo hoa 36 quả, sau khi lấy mẫu giám định còn lại tổng khối lượng là 11,56 kg.

Các vật chứng nêu trên đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 38H1-094B, cấp ngày 18/9/2013 mang tên C (bản gốc) chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS-HS, ngày 29 tháng 3năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 191; điểm o khoản 1 Điều 52; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Trương Ngọc C mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, các khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Trần Đình Đ từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu xanh, biển kiểm soát 38H1-094B, số khung: 271218, số máy: 271231. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, trên xe không có tài sản gì.

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông đã được niêm phong, bên trong có 09 (chín) hộp pháo nổ loại pháo hoa 36 quả, sau khi lấy mẫu giám định còn lại tổng khối lượng là 11,56 kg.

Tiếp tục tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 38H1-094B, cấp ngày 18/9/2013 mang tên Trương Ngọc C (bản gốc) kèm theo hồ sơ vụ án để đảm bảo việc thi hành án.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện nhà trường nơi bị cáo Vũ Trần Đình Đ học tập và người bào chữa cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ đều cho rằng xét về nhân thân bị cáo Vũ Trần Đình Đ tốt, từ trước tới ngày phạm tội chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Bản thân bị cáo Vũ Trần Đình Đ phạm tội khi tuổi đời còn rất trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên dẫn đến phạm tội, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hơn nữa, thời điểm bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, từ những nhận xét đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 54; Điều 91 và Điều 101 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp anh Vũ Hồng H là chị Trần Thị P trình bày: Con chúng tôi là bị cáo Vũ Trần Đình Đ vì cháu đang là học sinh bị người khác rủ rê, lôi kéo nên mới dẫn đến hành vi phạm tội như ngày hôm nay nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho cháu được hưởng án treo.

Các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người chứng kiến ông Nguyễn Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của ông Thắng không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo nên quyết định xét xử theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi Trương Ngọc C tàng trữ là 11,9kg pháo, Vũ Trần Đình Đ tàng trữ 10,32kg pháo đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh hàng cấm. Pháo nổ là mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm, nó không chỉ gây nguy hiểm cao độ đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Các bị cáo biết việc tàng trữ pháo là pháp luật nghiêm cấm, thế nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo bất chấp pháp luật vẫn tàng trữ pháo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, cấu kết chặt chẽ. Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo như sau:

Đối với Trương Ngọc C là người chủ mưu, đồng thời là người thực hành, C trực tiếp mua pháo về cất dấu, rủ rê bị cáo đàn đi lấy pháo và cho bị cáo Đ pháo. Vì vậy C là người khởi xướng, người đứng đầu trong vụ án, thời điểm bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo Đ chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo C vẫn xúi dục bị cáo Đ cùng thực hiện hành vi phạm tội với mình nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo C mức án nghiêm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có cha đẻ là ông Trương Đình C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba nên cần căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Đối với Vũ Trần Đình Đ là đồng phạm với vai trò là giúp sức trong vụ án. Sau khi C rủ rê thì bị cáo Đ đồng ý cùng đi lấy pháo với bị cáo C và đồng ý nhận pháo do bị cáo C cho. Như vậy vị trí vai trò, tính chất mức độ hành vi của bị cáo Đ thấp hơn so với C nên Đ chịu mức án thấp hơn so với C. Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo Đ mức án nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cáo, có ông ngoại là Trần Đình C1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên cần căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rỏ ràng, đối với bị cáo Vũ Trần Đình Đ khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi, không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự và chính sách người dưới 18 tuổi phạm tội đối với bị cáo Vũ Trần Đình Đ và cho các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ được hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm.

Đối với người đàn ông người Lào bán pháo cho C, do C không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có căn cứ để điều tra, kết luận. Nên hội đồng xét xử miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu xanh, biển kiểm soát 38H1-094B, số khung: 271218, số máy: 271231. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, trên xe không có tài sản gì thu giữ của C là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và thuộc quyền sở hữu của bị cáo C nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

- 01 thùng cát tông đã được niêm phong, bên trong có 09 (chín) hộp pháo nổ loại pháo hoa 36 quả, sau khi lấy mẫu giám định còn lại tổng khối lượng là 11,56 kg là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 38H1-094B, cấp ngày 18/9/2013 mang tên Trương Ngọc C (bản gốc) cần tiếp tục tạm giữ cùng hồ sơ vụ án để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ, người bào chữa cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm o khoản 1 Điều 52; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Ngọc C 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91, khoản 1 Điều 101, các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Trần Đình Đ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về vật chứng vụ án:

Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu xanh, biển kiểm soát 38H1-094B, số khung: 271218, số máy: 271231. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, trên xe không có tài sản gì.

- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông đã được niêm phong, bên trong có 09 (chín) hộp pháo nổ loại pháo hoa 36 quả, sau khi lấy mẫu giám định còn lại tổng khối lượng là 11,56 kg.

(Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2022.

- Tiếp tục tạm giữ Một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 38H1-094B, cấp ngày 18/9/2013 mang tên Trương Ngọc C (bản gốc) kèm theo hồ sơ vụ án để đảm bảo việc thi hành án.

- Về án phí: Buộc các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trương Ngọc C, Vũ Trần Đình Đ, người đại diện hợp pháp cho bịc cáo Vũ Trần Đình Đ là chị Trần Thị P, người bào chữa cho bị cáo Vũ Trần Đình Đ là bà Đinh Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ