- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quốc M phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Quốc M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày: 20-9- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thành và ông Nguyễn Ngọc Chẩn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 08 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Quốc M (tên gọi khác: D, L), sinh năm 1995; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Không xác định, họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Thu L, sinh năm 1971; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/6/2022, bị TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 12/5/2022, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đang chấp hành án phạt tù. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Cao Thị Thúy H, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
- Người làm chứng:
1. Bà Cao Thị Th, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
2. Bà Phạm Thị Thùy L, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu vực 11, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
3. Ông Võ Văn Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2020, trong thời gian đi làm biển thuê tại thị xã S thì Huỳnh Quốc M tìm hiểu thông tin về gia đình của ông Mai Văn Đ (tên gọi khác là Đ2) tại Khu phố V, phường X, thị xã S để lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Đ tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 09 giờ ngày 05/7/2020, sau khi hỏi thăm người dân để tìm kiếm nhà ông Đ, M mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của một người bạn rồi điều khiển đến nhà ông Đ tại Khu phố V, phường X, thị xã S. Tại đây, bị cáo M gặp bà Cao Thị Thúy H (là vợ của ông Đ) đang ở nhà một mình. Bị cáo M đưa ra thông tin gian dối, tự giới thiệu mình tên “D”, là bạn đi biển với anh DD2 và nói dối với bà H là bị cáo M đang sửa ghe nhưng vợ đã đưa con đi khám bệnh ở thành phố Q, không có tiền để trả cho thợ sửa ghe nên hỏi mượn bà H số tiền 30.000.000 đồng và hẹn đến chiều cùng ngày sẽ trả lại tiền, bà H tin là thật nên đã đưa cho M số tiền 30.000.000 đồng. M điều khiển xe mô tô nêu trên trả lại người bạn rồi đi xe khách vào tỉnh Khánh Hòa tiêu xài hết số tiền chiếm đoạt được. Sau đó M bỏ trốn, đến ngày 26/02/2022 thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa bắt theo Quyết định truy nã.
Vật chứng vụ án: 01 USB chứa dữ liệu điện tử thu thập từ camera an ninh tại nhà của bà Cao Thị Thúy H.
Trách nhiệm dân sự: Bà H yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo M chưa bồi thường.
Cáo trạng số 31/CT-VKSSC ngày 04/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Huỳnh Quốc M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo M khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng, đồng ý bồi thường cho vợ chồng bà H, ông Đ, hẹn khi chấp hành án xong sẽ đi làm để có tiền bồi thường.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, vợ chồng bà H, ông Đ yêu cầu bị cáo M bồi thường cho vợ chồng bà số tiền 30.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 31/CT-VKSSC ngày 04/8/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M từ 01 năm – 01 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 56/2022/HS-ST ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 26/02/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
- Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu điện tử thu thập từ camera an ninh tại nhà của bà Cao Thị Thúy H .
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hằng, ông Điệu, buộc bị cáo bồi thường cho vợ chồng bà H, ông Đ số tiền 30.000.000 đồng.
Trong phần tranh luận: Bị cáo M đồng ý với nội dung bản luận tội, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tố tụng:
Tại phiên tòa, vợ chồng bà H, ông Đ cùng tất cả những người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, bà H và ông Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Mai Văn Đ: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định ông Đ có tư cách người bị hại. Tuy nhiên, qua thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy đối tượng bị cáo trực tiếp có hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng là bà Cao Thị Thúy H. Vì vậy, bà H là người bị hại trong vụ án, còn ông Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do số tiền 30.000.000 đồng bị chiếm đoạt là tài sản chung của vợ chồng bà H, ông Đ.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Quốc M tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 09 giờ ngày 05/7/2020, tại Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Huỳnh Quốc M đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không có thật, tự nhận là bạn đi biển của chồng bị hại và hỏi mượn tiền trả cho thợ sửa ghe, hẹn chiều cùng ngày trả, khiến bị hại tin tưởng cho bị cáo mượn 30.000.000 đồng để sửa ghe. Sau khi bị hại giao tiền, M nhanh chóng tẩu thoát, chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 31/CT - VKSSC ngày 04/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 22/6/2022, bị TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiểm đoạt tài sản, ngày 12/5/2022, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ sức răn đe cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Xét bị cáo M không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu điện tử thu thập từ camera an ninh tại nhà của bà Cao Thị Thúy H .
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bà H, ông Đ, buộc bị cáo M bồi thường cho vợ chồng bà H, ông Đ số tiền 30.000.000 đồng.
Đối với xe mô tô Huỳnh Quốc M đã mượn của người khác để điều khiển đến nhà bà Cao Thị Thúy H thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do M không nhớ người cho mượn xe và đặc điểm của xe nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Về án phí: Bị cáo M bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Quốc M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc M 02 (Hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (Hai) năm tù tại bản án số 56/2022/HSST ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (Bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2022.
Hình phạt bổ sung: Không.
3. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu điện tử thu thập từ camera an ninh tại nhà của bà Cao Thị Thúy H .
4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho vợ chồng bà Cao Thị Thúy H, ông Mai Văn Đ số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Quốc M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - Sở tư pháp Phú Yên; - VKSND TX. Sông Cầu; - VKSND tỉnh PY; - CSĐT Công an TX. Sông Cầu; - Chi cục THADS TX. Sông Cầu; - CQ THA HS TX.Sông Cầu; - Bị cáo, bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Ngọc Tiên |