vanban.org

Bản án 42/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 07/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Quách D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án. Về xử lý vật chứng (Các biện pháp tư pháp): Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và và điểm a, c khoả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HS-ST.
Ngày: 07- 11 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Huy Tùng.

Ông Nguyễn Văn Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quách D; Sinh ngày 01/01/1970, tại huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp S, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Y (chết) và bà Huỳnh Thị H (chết); tiền án: không; tiền sự: không; vợ và con: có vợ là Hứa Thị Kim Á và có 02 người con; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/7/2022 đến nay “Có mặt”.

- Bị hại: Triệu B (Tên gọi khác là H); Sinh năm: 1984. Nơi cư trú: ấp S, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng “Có mặt”.

- Người làm chứng: Lý Thị Bé B; Sinh năm: 1984. Nơi cư trú: ấp S, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08/5/2022 Triệu B (Tên thường gọi: H) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49 đến nhà Quách Văn Th thuộc ấp S, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng để kiếm Th, khi đến nơi thì Triệu B đậu xe bên hông nhà của Th. Triệu B thấy anh của Th là Quách D đang ngồi nhậu cùng với Ph, Gh, S, Ngh và T ở trước nhà, lúc đó Triệu B đi lên chỗ nhậu thì những người đang ngồi nhậu đều nghỉ nhậu và đi về. Sau đó, Triệu B đi ra sau nhà để kiếm Th thì thấy vợ của Th tên Lý Thị Bé B ngồi ở cửa nhà sau, Triệu B hỏi “B, anh Th có nhà không” thì Bé B trả lời “Ổng chưa về đâu, khoảng bốn năm giờ mới về tới nhà”, khi đó Triệu B đi coi cá của Th nuôi và lấy ghế ngồi ở phía nhà sau chờ Th. Một lúc sau Quách D đi ra chỗ Triệu B đang ngồi thì hai người có xảy ra cự cãi và đánh nhau, lúc này Bé B can ngăn và kêu Quách D nghỉ đi thì Quách D nói “Mày mà nói hoài tao đánh luôn mày”, sau đó Bé B đẩy Triệu B ra thì Triệu B và Quách D nghỉ đánh nhau, khi đó Quách D đi lên nhà trước, còn Triệu B thì đi bộ về nhà. Khi Triệu B đi về thì Bé B dẫn xe của Triệu B vào nhà sau, một lúc sau Quách D đi ra nhà sau và thấy xe của Triệu B thì Quách D lấy cây xà beng đập xe của Triệu B làm hư hỏng nhiều bộ phận. Trong lúc đánh nhau, Triệu B bị sưng nề ở cánh tay trái, Quách D bị sưng nề ở cánh tay trái và bị xây xát da ở vùng đầu. Do vết thương nhẹ nên Triệu B và Quách D không có nằm viện. Quá trình làm việc Triệu B và Quách D không yêu cầu gì về việc bị thương tích trong lúc đánh nhau.

Tại bản Bản kết luận định giá số 13/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề kết luận: Giá trị thiệt hại tài sản của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49 tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 08/5/2022 là: 7.839.000 đồng (Bảy triệu tám trăm ba mươi chín nghìn đồng).

Trên cơ sở kết qủa điều tra và những tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trần Đề khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Quách D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Đề đã quyết định thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: FUTURE FI; Dung tích: 124; Màu sơn: Đen Ghi, bị hư hỏng nhiều bộ phận, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, nên đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu là bị hại Triệu B trong giai đoạn điều tra; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài 134 cm. Có một đầu dẹp, phần dẹp rộng nhất 04 cm; Đầu còn lại có một đoạn kim loại màu vàng đồng bao bên ngoài, có đường kính 2,5 cm; 01 (một) cây len dài 132 cm. Lưỡi bằng kim loại có số đo (24 x 16,5) cm. Cán bằng gỗ tre tròn dài 120 cm, đường kính lớn nhất 3,8 cm.

- Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKSTĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Quách D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số: 38/CT-VKSTĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Quách D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Quách D từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Triệu B xác định trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng, bị hại thống nhất nhận số tiền là 5.000.000 đồng, còn lại số tiền là 2.839.000 đồng bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, nên không có đề nghị gì; Về xử lý vật chứng của vụ án: (Các biện pháp tư pháp): Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Đề đã ra quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu là Triệu B 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: FUTURE FI; Dung tích: 124; Màu sơn: Đen Ghi, bị hư hỏng nhiều bộ phận; Đối với 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài 134 cm. Có một đầu dẹp, phần dẹp rộng nhất 04 cm; Đầu còn lại có một đoạn kim loại màu vàng đồng bao bên ngoài, có đường kính 2,5 cm; 01 (một) cây len dài 132 cm. Lưỡi bằng kim loại có số đo (24 x 16,5) cm. Cán bằng gỗ tre tròn dài 120 cm, đường kính lớn nhất 3,8 cm không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Quách D có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Ý kiến của bị hại Triệu B:

+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng, bị hại thống nhất nhận số tiền là 5.000.000 đồng, còn lại số tiền là 2.839.000 đồng bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

- Ý kiến của bị cáo Quách D: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Đề, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người làm chứng là Lý Thị Bé B vắng mặt tại phiên tòa. Do trước đó người làm chứng là Lý Thị Bé B đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của bà B tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng là Lý Thị Bé B.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quách D thừa nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08/5/2022 Triệu B (Tên thường gọi: H) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49 đến nhà Quách Văn Th thuộc ấp S, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng để kiếm Th, khi đến nơi thì Triệu B đậu xe bên hông nhà của Th. Triệu B thấy anh của Th là Quách D đang ngồi nhậu cùng với Ph, Gh, S, Ngh và T ở trước nhà, lúc đó Triệu B đi lên chỗ nhậu thì những người đang ngồi nhậu đều nghỉ nhậu và đi về. Sau đó, Triệu B đi ra sau nhà để kiếm Th thì thấy vợ của Th tên Lý Thị Bé B ngồi ở cửa nhà sau, Triệu B hỏi “B, anh Th có nhà không” thì Bé B trả lời “Ổng chưa về đâu, khoảng bốn năm giờ mới về tới nhà”, khi đó Triệu B đi coi cá của Th nuôi và lấy ghế ngồi ở phía nhà sau chờ Th. Một lúc sau Quách D đi ra chỗ Triệu B đang ngồi thì hai người có xảy ra cự cãi và đánh nhau, lúc này Bé B can ngăn và kêu Quách D nghỉ đi thì Quách D nói “Mày mà nói hoài tao đánh luôn mày”, sau đó Bé B đẩy Triệu B ra thì Triệu B và Quách D nghỉ đánh nhau, khi đó Quách D đi lên nhà trước, còn Triệu B thì đi bộ về nhà. Khi Triệu B đi về thì Bé B dẫn xe của Triệu B vào nhà sau, một lúc sau Quách D đi ra nhà sau và thấy xe của Triệu B thì Quách D lấy cây xà beng đập xe của Triệu B làm hư hỏng nhiều bộ phận.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được việc làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số: 38/CT-VKSTĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm mục đích cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Quách D thấy rằng, trước khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, căn cứ vào điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng, bị hại thống nhất nhận số tiền là 5.000.000 đồng, còn lại số tiền là 2.839.000 đồng bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: (Các biện pháp tư pháp): Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Đề đã ra quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu là Triệu B 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83P2-582.49; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: FUTURE FI; Dung tích: 124; Màu sơn: Đen Ghi, bị hư hỏng nhiều bộ phận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài 134 cm. Có một đầu dẹp, phần dẹp rộng nhất 04 cm; Đầu còn lại có một đoạn kim loại màu vàng đồng bao bên ngoài, có đường kính 2,5 cm; 01 (một) cây len dài 132 cm. Lưỡi bằng kim loại có số đo (24 x 16,5) cm. Cán bằng gỗ tre tròn dài 120 cm, đường kính lớn nhất 3,8 cm không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Quách D là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tuyên bố bị cáo Quách D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Quách D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

- Về xử lý vật chứng (Các biện pháp tư pháp): Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài 134 cm. Có một đầu dẹp, phần dẹp rộng nhất 04 cm; Đầu còn lại có một đoạn kim loại màu vàng đồng bao bên ngoài, có đường kính 2,5 cm; 01 (một) cây len dài 132 cm. Lưỡi bằng kim loại có số đo (24 x 16,5) cm. Cán bằng gỗ tre tròn dài 120 cm, đường kính lớn nhất 3,8 cm.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử buộc bị cáo Quách D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ