- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn L - Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật TTHS trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày: 06-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Giang Công Chiến
Ông Thạch Ni
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2022/QĐXXST-HS ngày 09/5/2022 và Thông báo dời phiên tòa số 06/2022/TB-TA ngày 17/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn L, sinh năm 1978, tại: Thái Bình; nơi đăng ký HKTT: Thôn 5, xã C, huyện L, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: Khu phố L, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1941; bị cáo có 05 anh, em ruột; lớn nhất sinh năm 1971 và nhỏ nhất sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Phú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Đỗ Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, Đỗ Văn L quen biết với một người đàn ông tên Cảnh (không rõ lai lịch), cư trú tại huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 17/01/2022, L điều khiển xe mô tô biển số: 36F1-329.66 đi từ nhà tại khu phố L, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương đến xã Phú R, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước gặp Cảnh. Qua trò chuyện, C thỏa thuận thuê Lvận chuyển 09 hộp pháo, dạng khối hình hộp chữ nhật từ huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đến ngã tư Miếu Ông Cù thuộc phường C, thành phố A, tỉnh Bình Dương với giá 1.500.000 đồng, khi đến sẽ có người nhận pháo và trả tiền công thì L đồng ý. L, Cảnh bỏ pháo vào thùng xốp và bao xác rắn màu xanh, cột phía sau xe mô tô biển số: 36F1 - 329.66 rồi L điều khiển xe mô tô về tỉnh Bình Dương. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô đến ấp P 1, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an huyện P và Công an xã P kiểm tra, phát hiện bên trong thùng xốp và bao xác rắn có tổng cộng 9 hộp dạng hình hộp chữ nhật, bên ngoài hộp có bọc giấy nhiều màu. Qua làm việc, L không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hàng hóa và trình bày toàn bộ số hàng hóa nêu trên là pháo nổ nên lực lượng Công an lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với L, đồng thời tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Quá trình điều tra, Đỗ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Ngày 19/01/2022, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số: 785/C09B, kết luận: Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 13,4kg.
Cơ quan điều tra thu giữ:
- 09 (chín) hộp, dạng hình hộp chữ nhật, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ (được niêm phong theo quy định);
- 01 (một) xe mô tô biển số: 36F1 - 329.66, hiệu SUZUKI, màu đỏ đen (đã qua sử dụng).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO (đã qua sử dụng).
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 12/4/2022, Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự (BLHS);
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện KSND huyện P, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung. Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 12/4/2022 của Viện KSND huyện P, tỉnh Bình Phước đã truy tố, cụ thể: Ngày 17/01/2022, bị cáo nhận vận chuyển cho đối tượng tên Cảnh 09 (chín) hộp pháo nổ (pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 13,4kg từ xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước về ngã tư Miếu Ông Cù thuộc phường Bình C, thành phố Thuận A, tỉnh Bình D với tiền công là 1.500.000 đồng. Trên đường vận chuyển đến xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang (BL08-09), lời khai của người làm chứng (BL 64-65), kết luận giám định (BL11), vật chứng vụ án (BL25), cũng như những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS. Do đó, bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Do pháo nổ là loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành nên hành vi bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo ý thức được việc vận chuyển pháo nổ là trái pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị và từ pháo nổ có thể dẫn đến nhiều thiệt hại về tài sản, tính mạng con người. Xuất phát từ mục đích, động cơ vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện việc phạm tội như đã phân tích ở trên.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có người thân là bà nội và hai bác là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; đồng thời bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam hơn 04 tháng cũng đủ để bị cáo ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo bản thân. Do vậy, việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi thuê Lưu vận chuyển pháo nổ. Cơ quan điều tra chưa làm việc được, tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý rong vụ án.
Vật chứng của vụ án:
Đối với 07 (bảy) hộp, dạng hình hộp chữ nhật có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống hình trụ tròn, đường kính 2,3cm. Tất cả được đựng trong thùng carton, được dán giấy niêm phong (Hoàn trả sau giám định) là tang vật của vụ án nên áp dụng Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số: 36F1 - 329.66, hiệu SUZUKI, màu đỏ đen (đã qua sử dụng), số khung 4EYNJV104064, số máy F4F3117742: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, nhưng không có chứng chứng minh. Căn cứ giấy tờ mua bán xe ngày 20/6/2021 (BL 41) và lời khai của người bán xe (BL 66-67), có căn cứ xác định đây là tài sản của bị cáo. Tuy nhiên, bị đã đã sử dụng phương tiện này dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo không sử dụng vào quá trình phạm tội nên áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật TTHS trả lại cho bị cáo Đỗ Văn L.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 và 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Văn L cho Ủy ban nhân dân phường Tân Đông H, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú biết. Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) hộp, dạng hình hộp chữ nhật có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống hình trụ tròn, đường kính 2,3cm. Tất cả được đựng trong thùng carton, được dán giấy niêm phong (Hoàn trả sau giám định).
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số: 36F1 - 329.66, hiệu SUZUKI, màu đỏ đen (đã qua sử dụng), số khung 4EYNJV104064, số máy F4F3117742.
Tuyên trả cho bị cáo Đỗ Văn L 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO (đã qua sử dụng).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - VKSND tỉnh Bình Phước (01) - VKSND huyện Đồng Phú (01); - Chi cục THADS huyện Đồng Phú (01); - PV06 - CA tỉnh Bình Phước (01); - Công an huyện (gồm: Nhà tạm giữ, Đội hồ sơ nghiệp vụ, Đội điều tra CA huyện) (03); - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01); - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Bị cáo; người tham gia tố tụng (01); - Lưu (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Vũ Hoàng Linh |