vanban.org

Bản án 42/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt: [3]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Chúng - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HS-ST
Ngày 30/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Mạnh và ông Sùng A Cở.

- Thư ký phiên tòa: Ông Má A Trư - Thư ký Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Lồ Kim Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30/11/2022, tại Hội trường nhà văn hóa tổ 1, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Giàng A C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1969, tại thị xã S, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: H.Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng A H (đã chết); Con bà: Sùng Thị D (đã chết); Vợ là Vàng Thị Di (đã chết); Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo: Giàng A C bị tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 10/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L. Do vi phạm nghĩa vụ trong thời gian được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, Giàng A C bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/9/2022 đến hết ngày 11/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa. Có mặt tại phiên tòa;

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Thúy Hằng – Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa;

Người làm chứng: Anh Giàng A D, sinh ngày 30/9/2006. Nơi cư trú : Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người làm chứng Giàng A C: Bà Lò Thị Thúy Ngọc - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 02/6/2022 tại đường liên thôn T Mông, Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L, tổ công tác của Công an xã T và đội Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa phát hiện Giàng A D (sinh năm 2006, trú tại Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L) có biểu hiện nghi vấn về ma túy, nên đã mời bà Vũ Thị D và ông Hạng A S chứng kiến việc kiểm tra đối tượng. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác bên phải của chiếc áo D đang mặc trên người 01 ví màu đen, bên trong có 01 gói nilon màu đen có chứa chất bột khô vón cục màu trắng, D khai là ma túy Heroine, do bố đẻ của D là Giàng A C đưa tiền cho D mua để cả hai sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và thu giữ vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A C.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12 giờ ngày 02/6/2022 tại lán trông cá thuộc Thôn S, xã T, thị xã S, tỉnh L, Chúng đưa cho D 300.000 đồng và bảo D đi mua ma túy về để cả hai sử dụng, D đồng ý. Giàng A D đi bộ từ Thôn S, xã T đến trung tâm xã T thì dùng 100.000 đồng để mua thức ăn, sau đó tiếp tục đi bộ đến thôn V, xã M, thị xã S, tỉnh L. Tại đây, D thấy một người phụ nữ mặc quần áo dân tộc H.Mông, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, có biểu hiện nghiện ma túy nên hỏi người này có hàng bán không, người này hỏi D mua bao nhiêu, D nói mua 200.000 đồng và đưa tiền cho người phụ nữ thì người này đưa cho D 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa ma túy. D nhận lấy gói ma túy nói trên cất vào trong ví của mình rồi để ví vào túi áo khoác đang mặc trên người, sau đó đi bộ quay về lán trông cá. Khi D đi đến khu vực thôn T Mông, xã T thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Chúng khai nhận đã đưa cho Giàng A D số tiền 300.000 đồng và bảo D đi mua ma túy về sử dụng.

Ngày 02/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với số chất nghi là Heroine đã thu giữ của Giàng A D. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã ban hành Kết luận giám định số 142/KL-GĐMT ngày 05/6/2022, kết luận: “0,32 (không phẩy ba mươi hai) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).”

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSSP ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L, truy tố bị cáo Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Giàng A C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/9/2022. Khấu trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 10/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng A C là bà Nông Thị Thúy Hằng: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa đã truy tố đối với bị cáo và không bổ sung gì vào lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Giàng A C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lệnh và biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản khám xét nơi ở của Giàng A C; Biên bản niêm phong đồ vật tạm giữ; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Bản kết luận giám định số 204/GĐMT ngày 27/7/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Các biên bản xác minh; Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 51 ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Sa Pa. Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 01/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/6/2022 Giàng A C sai con trai là Giàng A D (Sinh ngày 30/9/2006) đi mua ma túy về để hai bố con cùng sử dụng. Chúng đưa cho D số tiền 300.000 đồng. Sau khi nhận tiền D đi bộ đến trung tâm xã T lấy 100.000 đồng mua thức ăn, sau đó đi bộ đến thôn V, xã M gặp một người phụ nữ Mông, D không quen biết mua 200.000 đồng tiền ma túy về để sử dụng. Khi đang trên đường về nhà thì bị lực lượng công an bắt giữ và thu giữ toàn bộ số ma túy.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là: Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội, theo quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Giàng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật và bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên trong quá trình bị cáo được tại ngoại tại địa phương bị cáo đã không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nên bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Giàng A C cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như gia cảnh của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Giàng A D, ngày 16/9/2022, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định về độ tuổi của Giàng A D để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tại Kết luận giám định số 14/2022/GĐT ngày 06/10/2022 của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: “Qua kết quả khám lâm S, sự phát triển thể chất của cơ thể, sự mọc răng và dấu hiệu cốt hóa các đầu xương qua các phim chụp Xquang, xác định Giàng A D có độ tuổi từ 16 tuổi đến 16 tuổi 6 tháng (Tại thời điểm giám định ngày 19/9/2022)”. Theo đó, tại thời điểm thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 02/6/2022, Giàng A D có độ tuổi từ 15 tuổi 08 tháng 13 ngày đến 16 tuổi 02 tháng 13 ngày, xét thấy là phù hợp với ngày sinh 30/9/2006 ghi trên bản sao giấy khai sinh nên có căn cứ xác định ngày sinh ghi trên giấy khai sinh của Giàng A D là chính xác. Như vậy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Giàng A D mới được 15 tuổi 08 tháng 02 ngày, không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

Đối với 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định ; 01 ví giả da màu đen là những vật chứng nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt chính là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Giàng A C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt:

Áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A C 05 (Năm) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 13/9/2022. Khấu trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 10/6/2022.

[3]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 (Một) bì thư niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên bề mặt có ghi ‘‘Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Giàng A D phạm tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ xảy ra ngày 02/6/2022 tại thôn T Mông, xã T Mông, xã T, thị xã Sa Pa tỉnh Lào Cai. Tại các mép dán của bì thư có chữ ký ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, La Đức Lâm, Nguyễn Việt Xô, Giàng A D, một dấu điểm chỉ của Giàng A C, dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt;

- 01 ví giả da màu đen.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Sa Pa với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sa Pa ngày 29/11/2022.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Giàng A C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ