- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lý đối với anh Đinh Ngọc Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Khoa
2. Ông Nguyễn Gia Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2022/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 08 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1974.
Bị đơn:
Anh Đinh Ngọc Đồng, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Xóm Chiềng, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Đồng có mặt, chị Lý có đơn xin xứ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lý trình bày:
Chị và anh Đinh Ngọc Đồng tự nguyện tìm hiểu đi tới hôn nhân có đăng ký kết hôn năm 1992 tại UBND xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau ngày cưới vợ chồng sống tại xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn. Cuộc sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 1999 vợ chồng sảy ra mâu thuẫn do anh Đồng thường xuyên rượu chè, hay chửi bới vợ con, rồi súc phạm gia đình nhà vợ, không có sự tôn trọng. Khi mâu thuẫn vợ chồng sảy ra chị đã cố gắng chịu đựng và động viên khuyên bảo nhiều lần, khu hành chính đã hòa giải nhưng không có kết quả, anh Đồng không thay đổi. Đến tháng 7 năm 2021 chị đi làm ăn xa nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn với anh Đồng để vợ chồng giải phóng cho nhau.
* Về con chung: Chị và anh Đồng đều xác nhận vợ chồng có 03 con chung là: Cháu Đinh Ngọc Linh, sinh ngày 20/11/1993; Đinh Đức Đăng, sinh ngày 4/3/1996; Đinh Thị Thu Hậu, sinh ngày 15/2/1999. Hiện nay các con chung của anh chị đã khôn lớn trưởng thành nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
* Về tài sản chung: Chị và anh Đồng xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Về công nợ: Chị xác nhận không có không nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn anh Đinh Ngọc Đồng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về thời gian, điều kiện và nơi đăng ký kết hôn của vợ chồng như chị Lý trình bày là đúng. Trong hai lần hòa giải tại tòa án anh trình bày mâu thẫu như chị Lý trình bày nhưng vào ngày 23/8/2022 và tại phiên tòa, anh thay đổi lại lời khai đã trình bày tại biên bản hòa giải về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Theo anh Đồng, tại biên bản hòa giải, do anh muốn chị Lý về nhà cùng bảo ban nhau làm ăn nên anh mới khai anh có hành vi bạo lực với chị lý và mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Thực tế không đúng vậy, thời gian về trước, cũng đã lâu anh có uống rượu khi nhà và anh em hàng xóm có cỗ mời, nhưng không làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và việc nuôi dạy con chung. Anh vẫn chăm lo cho gia đình, cùng chị Lý nuôi dạy các con ăn học, trưởng thành có việc làm ổn định. Những năm gần đây anh tự thay đổi, không uống rượu nữa. Tháng 7/2021, chị Lý tự bỏ nhà đi làm ăn, anh có động viên, khuyên bảo, chị Lý nói đi kiếm tiền cải thiện cuộc sống. Sau khi đi làm ăn, chị Lý lại làm đơn xin ly hôn anh. Anh nhận thấy những mâu thuẫn phát sinh của vợ chồng anh chỉ là những mâu thuẫn nhỏ mà gia đình nào cũng có, anh vẫn còn thương yêu chị Lý và các con rất nhiều nên anh không đồng ý ly hôn chị Lý. Anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ. Đã gần 03 năm nay anh tự khắc phục những tồn tại của mình, khu và các tổ chức đoàn thể khu dân cư đều xác nhận.
* Về con chung: Chị và anh Đồng đều xác nhận vợ chồng có 03 con chung như chị Lý đã trình bày. Hiện nay các con chung của anh chị đã khôn lớn trưởng thành nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
* Về tài sản chung: Chị và anh Đồng xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Về công nợ: Vợ chồng không có không nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 – Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 – Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Lý xin ly hôn anh Đinh Ngọc Đồng.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lý phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lý và anh Đinh Ngọc Đồng đều ĐKHKTT và nơi cư trú tại xóm Chiềng, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh phú Thọ. Chị Lý làm đơn xin ly hôn anh Đồng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35- Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú thọ thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền.
Ngày 19/8/2022, chị Lý nộp đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 227- BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Lý.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Lý có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải khi ly hôn, HĐXX xét thấy: Yêu cầu của chị Lý không phù hợp với qui định của Luật nội dung, tại Điều 54- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong vụ án này, cả nguyên đơn và bị đơn đều có mặt theo triệu tập của Tòa án, bị đơn xin đoàn tụ nên thủ tục hòa giải là bắt buộc.
. Về nội dung: Quan điểm của Kiểm Sát Viên tại phiên tòa về giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ bởi lẽ: Chị Nguyễn Thị Lý và anh Đinh Ngọc Đồng, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ năm 1992. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Cuộc hôn nhân của chị Lý, anh Đồng đã có thời gian dài hòa thuận hạnh phúc. Kết quả cuộc hôn nhân hòa thuận, hạnh phúc là 03 con chung của anh chị đều đã trưởng thành, chăm ngoan và đều có việc làm ổn định. Tuy nhiên trong cuộc sống chung khó tránh khỏi những va vấp, mâu thuẫn xuất phát từ cả hai vợ chồng mà cả hai cần phải có thời gian để nhìn nhận lại bản thân để cùng nhau khắc phục những tồn tại làm ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Lý khai anh Đồng thường xuyên uống rượu rồi có hành vi bạo lực với chị, chửi bới xúc phạm gia đình chị, khu dân cư đã can thiệp nhiều lần nên mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tòa án yêu cầu chị Lý cung cấp tài liệu chứng cứ về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng nhưng chị Lý không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Đồng xác định còn tình cảm với chị Lý và đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành xác minh tại khu dân cư và chi hội phụ nữ nơi chị Lý, anh Đồng cư trú xác nhận: Gia đình chị Lý có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, khu chưa phải can thiệp. Thỉnh thoảng anh Đồng có uống rượu, mắng chửi vợ con….anh Đồng có thiên hướng sửa đổi… Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với sự xác nhận của chị Lý tại biên bản hòa giải ngày 15/8/2022 về việc anh Đồng đã sửa đổi, khắc phục tồn tại bản thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Lý, anh Đồng chưa đến mức trầm trọng, mâu thuẫn đã xảy ra chỉ là những mâu thuẫn nhỏ mà cả hai bên đều khắc phục được. Khu hành chính và chi hội phụ nữ khu chưa phải can thiệp nên không có các căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý đối với anh Đồng .
Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý nên các nội dung khác Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lý phải nộp toàn bộ tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 227; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lý đối với anh Đinh Ngọc Đồng.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lý phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Lý đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0006880 ngày 08/08/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Anh Đinh Ngọc Đồng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn thị Lý được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. "Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7;, Điều 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện; - Cơ quan THADS huyện; - UBND xã Tất Thắng; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Bích Thủy |