vanban.org

Bản án 42/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết B.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Tuyết B được ly hôn với ông Dương Minh H. Giấy chứng nhận kết hôn số 53, ngày 04/6/2021 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phạm Thị Tuyết B và ông Dương Minh H không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết B.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 / 3 / 2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm;

2. Bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Tuyết B, sinh năm 1999; địa chỉ: số nhà 646, ấp An Quới, xã An Thạnh Trung, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Dương Minh H, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Tuyết B trình bày, qua tìm hiểu, bà B và ông H kết hôn vào tháng 5/2016, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang ngày 04/6/2021. Trong th i gian chung sống, vợ ch ng có sinh 01 con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021. Con chung đang được bà B nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Sau th i gian chung sống, đến tháng 12/2021 vợ ch ng thư ng xuyên cãi vã do bất đ ng quan điểm sống, ch ng hay uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ con, đánh vợ. Vợ ch ng không còn sống chung hai tháng nay. Do tình cảm vợ ch ng không còn nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông H; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện g m: bản chính giấy chứng nhận kết hôn số 53, ngày 04/6/2021 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp; bản sao giấy khai sinh của Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021.

- Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Dương Minh H trình bày, qua tìm hiểu, bà B và ông H kết hôn vào tháng 5/2021, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang ngày 04/6/2021. Trong th i gian chung sống, vợ ch ng có sinh 01 con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021. Con chung đang được bà B nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Sau th i gian chung sống, đến tháng 12/2021 vợ ch ng không có mâu thuẫn. Vợ ch ng không còn sống chung hai tháng nay. Do ông còn thương vợ, thương con nên ông H không đ ng ý yêu cầu được ly hôn với bà B; đ ng ý để bà B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021, ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi dạy con chung mỗi tháng 1.000.000 đ ng; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Từ khi Tòa án tạo điều kiện để vợ ch ng hàn gắn tình cảm đến nay giữa ông và bà B cũng chỉ liên hệ với nhau qua điện thoại, bà B cũng không đ ng ý để ông về chung sống với bà; ông cũng đã cố gắng níu kéo tình cảm, nhưng bà B không thay đổi. Do bận đi làm xa, không thể có mặt khi Tòa án triệu tập nên ông H yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Tại phiên tòa,

- Bà B trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, bà B không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của ngư i tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà B và ông H chung sống có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà B, ông H hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Xét thấy, bà B yêu cầu ly hôn với ông H xuất phát từ việc sau khi kết hôn, bà B và ông H đã không có tiếng nói chung, thư ng hay mâu thuẫn, ch ng hay uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ con, đánh vợ, 02 bên cũng đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 tháng nay, việc này ông H cũng thừa nhận và yêu cầu được hàn gắn tình cảm vợ ch ng, ông nhận thấy sai lầm và mong muốn sửa đổi. Mặt khác, th i gian Tòa án thụ lý vụ án, hòa giải đã tạo điều kiện để ông H hàn gắn tình cảm vợ ch ng nhưng phía bà B không đ ng ý và kiên quyết ly hôn, nên mục đích hôn nhân không đạt nếu buộc sống chung sẽ không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021. Bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung, yêu cầu này cũng được bị đơn đ ng ý, yêu cầu này phù hợp quy định của pháp luật, do đó giao con chung cho bà B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi dạy con chung: Ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi dạy con chung mỗi tháng 1.000.000 đ ng, ghi nhận sự tự nguyện của ông H đối với việc cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà B, ông H không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

Đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Phạm Thị Tuyết B khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Dương Minh H. Đ ng th i, ông H cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trước khi phiên tòa được mở, ông H có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: [2.1] Về hôn nhân: Bà B và ông H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà B, ông H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà B xác định, trong quá trình chung sống, ch ng hay uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ con, đánh vợ. Vợ ch ng không còn sống chung hai tháng nay. Cho nên, bà B yêu cầu được ly hôn với ông H. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, bà B khẳng định không còn tình cảm với ông H, nguyên nhân mâu thuẫn vợ ch ng xuất phát từ việc không có tiếng nói chung, ch ng hay uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ con, đánh vợ. Vợ ch ng không còn sống chung hai tháng nay, từ khi thụ lý vụ án, cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cả bà B, ông H cũng không thể đoàn tụ, hàn gắn tình cảm được; mặc dù ông H không đ ng ý ly hôn, với lý do ông còn tình cảm với bà B, những mâu thuẫn bà B trình bày ông xác nhận là đúng và muốn sửa đổi sai điều này bà B không chấp nhận, tại phiên tòa bà B vẫn giữ yêu cầu, không đ ng ý việc hàn gắn tình cảm, do th i gian chung sống bà B và ông H ông có đánh vợ nhưng do trong lúc giận ông đã sửa đổi. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho vợ ch ng đoàn tụ, nhưng cả hai đến nay không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ ch ng, ông H cũng nhiều lần liên hệ để hai vợ ch ng đoàn tụ, nhưng bà B không thay đổi. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà B và ông H là trầm trọng, đ i sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc bà B yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B. [2.2] Về con chung: Bà B, ông H cùng thống nhất, trong th i gian chung sống, vợ ch ng có sinh 01 con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021. Bà B yêu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông H đ ng ý để bà B được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy việc yêu cầu tiếp tục nuôi con chung của bà B là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đ ng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi dạy con chung của ông H, mỗi tháng 1.000.000 đ ng. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà B và ông H xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H chịu án phí cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các i u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các i u 144, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 i u 27 Nghị quyết 326 2016 UBT H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ quốc hội quy định v mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết B.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Tuyết B được ly hôn với ông Dương Minh H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 53, ngày 04/6/2021 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phạm Thị Tuyết B và ông Dương Minh H không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Phạm Thị Tuyết B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Lan K, sinh ngày 30/10/2021. Ông Dương Minh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi dạy con chung mỗi tháng 1.000.000 đ ng, th i gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ tháng 4 năm 2022 đến khi con chung thành niên.

Bà Phạm Thị Tuyết B cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Dương Minh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của ngư i thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Tuyết B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010113 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 02 năm 2022; bà Phạm Thị Tuyết B đã nộp đủ án phí.

Ông Dương Minh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi dạy con chung 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phạm Thị Tuyết B có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng th i hạn kháng cáo của ông Dương Minh H được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại i u 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại i u 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ