- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M: Xác định anh Nguyễn Thanh B; sinh năm 1962; Nơi cư trú: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh NA là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K; sinh ngày: 07/8/2008; Địa chỉ: Khối 3, phường Đ, thành phố V, tỉnh NA.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 5 - 2022 V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh
Ông Nguyễn Công Thẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2022/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2022, về tranh chấp Xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M; Sinh năm: 1981; Cư trú tại: Khối 3, phường Đ, thành phố V, tỉnh NA. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B; Sinh năm: 1962; Cư trú tại: Khối T, Phường H, thành phố V, tỉnh NA; Vắng mặt tại phiên tòa (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Quốc Q; Sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: Xóm L, xã T, huyện TC, tỉnh NA. Nơi tạm trú: Xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên toà (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong "Đơn khởi kiện" đề ngày 02/3/2022, Bản tự khai ngày 28/3/2022, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn trình bày:
Năm 2007, chị kết hôn với anh Trịnh Quốc Q. Tuy nhiên, do quan hệ hôn nhân không tình cảm, không hạnh phúc nên trong thời gian có quan hệ hôn nhân với anh Q thì chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Thanh B và sinh ra cháu Trịnh Quốc K, Sinh ngày: 07/8/2008. Do cháu K sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Q nên trong thủ tục khai sinh của cháu K có họ tên cha là Trịnh Quốc Q. Đến năm 2010 chị và anh Q ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 124/QĐ-ST ngày 14/6/2010 của Toà án nhân dân thành phố Vinh đã giao cháu Trịnh Quốc K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn với anh Q, chị đã liên hệ với anh Nguyễn Thanh B để làm thủ tục xác nhận cha cho cháu Trịnh Quốc K. Theo Kết quả phân tích ADN ngày 02/10/2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận anh Nguyễn Thanh B và cháu Trịnh Quốc K có quan hệ huyết thống cha con. Nhưng từ đó cho đến nay, chị và anh B không thống nhất được về cách thức làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để công nhận cháu K là con của anh B. Vì vậy, hiện nay chị khởi kiện yêu cầu Toà án xác định anh Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1962; Nơi ĐKHKTT: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh NA là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K, sinh ngày: 07/8/2008.
Tại Bản tự khai ngày 28/3/2022, Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Thanh B trình bày: Khoảng năm 2001, anh có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị M. Đến năm 2008, chị M sinh ra cháu Trịnh Quốc K, Sinh ngày: 07/8/2008. Tuy nhiên, trong thời gian này chị M đã đăng ký kết hôn với anh Trịnh Quốc Q nên trong thủ tục khai sinh của cháu K có họ tên cha là Trịnh Quốc Q. Đến năm 2010, chị M và anh Q ly hôn, Toà án đã giao cháu K cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi chị M và anh Q ly hôn, chị M đã liên hệ với anh để làm thủ tục xác nhận cha cho cháu K. Theo Kết quả phân tích ADN ngày 02/10/2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận anh và cháu Trịnh Quốc K có quan hệ huyết thống cha con. Nhưng sau đó anh và chị M không thống nhất được về cách thức làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, hiện nay chị M làm đơn khởi kiện yêu cầu xác định anh là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K thì anh đồng ý, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M. Tuy nhiên, do điều kiện công việc không thể có mặt tại Toà án nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.
Tại Bản tự khai ngày 15/4/2022, Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Quốc Q trình bày: Vào năm 2007, anh kết hôn với chị Nguyễn Thị M. Trong thời kỳ hôn nhân, chị M có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Thanh B và sinh ra cháu Trịnh Quốc K, sinh ngày: 07/8/2008. Do cháu K sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên trong thủ tục khai sinh của cháu có họ tên cha là họ tên của anh (Trịnh Quốc Q). Đến năm 2010, anh và chị M đã thuận tình ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 124/QĐ-ST ngày 14/6/2010 của Toà án nhân dân thành phố Vinh đã giao con chung là cháu Trịnh Quốc K cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng nên sau khi ly hôn, cháu vẫn sinh sống cùng chị M. Vì vậy, hiện nay chị M làm đơn khởi kiện yêu cầu xác định anh Nguyễn Thanh B là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K thì anh đồng ý, đề nghị Toà án căn cứ vào kết luận giám định ADN để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, anh không có ý kiến gì khác. Tuy nhiên, do điều kiện công việc thường xuyên phải đi công tác xa, không thể có mặt theo các thông báo của Tòa án được nên anh đề nghị Tòa án xét xử, giải quyết vắng mặt anh trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- Tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 BLTTDS.
- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, xác định anh Nguyễn Thanh B là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K; sinh ngày 07/8/2008.
Về án phí: Đề nghị miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Ngày 02 tháng 3 năm 2022, chị Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân thành phố Vinh yêu cầu xác định cha cho cháu Trịnh Quốc K. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị Nguyễn Thị M là mẹ của cháu Trịnh Quốc K nên có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Thanh B có nơi cư trú tại Khối T, phường H, thành phố V nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh B là bị đơn và anh Trịnh Quốc Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và đều có đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh B và anh Q.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xác định anh Nguyễn Thanh B là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K. Tại các bản tự khai, anh Nguyễn Thanh B và anh Trịnh Quốc Q cũng đều thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Trịnh Quốc Q thì chị M đã sinh ra cháu Trịnh Quốc K; sinh ngày: 07/8/2008. Tuy trong thủ tục khai sinh của cháu K có họ tên cha là Trịnh Quốc Q nhưng thực tế cha đẻ của cháu Q là anh Nguyễn Thanh B. Căn cứ vào Kết quả phân tích ADN ngày 02/10/2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận: anh Nguyễn Thanh B và cháu Trịnh Quốc K có mối quan hệ huyết thống cha – con. Do đó, việc chị Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Thanh B là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M.
. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M là xác định cha cho con chưa thành niên nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M: Xác định anh Nguyễn Thanh B; sinh năm 1962; Nơi cư trú: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh NA là cha đẻ của cháu Trịnh Quốc K; sinh ngày: 07/8/2008; Địa chỉ: Khối 3, phường Đ, thành phố V, tỉnh NA.
2. Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh B có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cải chính hộ tịch và thực hiện các quyền về lý lịch tư pháp khác cho cháu Trịnh Quốc K theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M là người khởi kiện xác định cha cho con chưa thành niên nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND thành phố Vinh; - Chi cục THADS thành phố Vinh; - Các đương sự; - UBND phường Đ, thành phố V, NA; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |