vanban.org

Bản án 42/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Xuân T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Ngô Nam K, sinh ngày 05/11/2010.

Về án phí: Anh Ngô Xuân T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000576 ngày 18/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình thành án phí. V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Xuân T - Nguyễn Thị Thu P1"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Xuân T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Ngô Nam K, sinh ngày 05/11/2010.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05/8/2022
“V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Lợi

Ông Trương Công Định

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 05/8/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2022 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Ngô Xuân T, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: L27, LK1, khu đô thị Đ, xã P, thành phố T1, tỉnh T1.

B đơn: Chị Nguyễn Thị Thu P1, sinh năm 1987.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 03, phường H, thành phố T1, tỉnh T1.

Nơi tạm trú: Số nhà 07, ngách 14, ngõ 65, đường N, tổ 10, phường T2, thành phố T1, tỉnh T1.

(Anh T và chị P1 có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/01/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Ngô Xuân T trình bày:

Năm 2013, anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị Thu P1 thuận tình ly hôn, theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 26/2013/QĐ-GQVDS ngày 18/4/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình thì con chung là cháu Ngô Nam K, sinh ngày 05/11/2010 do chị P1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con chung tròn 18 tuổi. Năm 2016 chị P1 kết hôn và sinh 02 con nhỏ, đồng thời chuyển hộ khẩu về tổ 03 phường H, thành phố T1. Chị P1 để cháu Ngô Nam K cho ông bà ngoại là ông Nguyễn Công S và bà Hồ Thị Hồng Đ1 nuôi dưỡng tại phường T2, thành phố T1 trong khi ông bà tuổi đã cao, mắc bệnh hiểm nghèo phải thường xuyên điều trị ở bệnh viện. Chị P1 với đặc thù công việc là điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học y T1 hay phải đi trực nên không có nhiều thời gian chăm sóc cháu K. Trong thời gian cháu K chuyển sang sống cùng, anh T nhận thấy cháu học kém và thiếu những kĩ năng sống cần thiết. Do cháu K đang trong độ tuổi dậy thì, tâm sinh lý thay đổi cần có sự chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng con Ngô Nam K, anh yêu cầu chị P1 cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/1 tháng đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hiện nay anh đang là lao động tự do, công việc chính là môi giới và đầu tư bất động sản, thời gian không gò bó, thu nhập bình quân khoảng 30.000.000 đồng/1 tháng tùy thuộc vào thị trường, hiện nay anh đang sống cùng mẹ đẻ, vợ và hai con tại khu đô thị Đ, xã P, thành phố T1, anh có nhà ở ổn định lại gần trường học, vì vậy có điều kiện để nuôi dạy cháu K tốt hơn.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu P1 trình bày:

Sau khi chị P1 và anh T ly hôn, chị P1 là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cùng với sự giúp đỡ của bố mẹ đẻ, gia đình luôn tạo điều kiện học tập, sinh hoạt, dạy dỗ tốt nhất cho cháu. Hiện nay, cháu K phát triển hoàn toàn bình thường, cháu cao 152cm, cân nặng 60kg. Trong 10 năm qua, chị P1 chăm lo cho cháu K từ sách vở, quần áo, liên lạc với thầy cô và nhà trường, chị cùng với ông bà ngoại và bố dượng cháu thay nhau đưa đón đi học. Chị và gia đình vẫn tạo điều kiện để anh Ngô Xuân T thăm nom, chăm sóc và giáo dục cháu K. Tháng 11/2021 anh T có nguyện vọng được đón cháu về nuôi, chị và gia đình cũng đồng ý, chuẩn bị toàn bộ quần áo, đồ dùng học tập, sinh hoạt của cháu K để chuyển về nhà anh T ở xã P, cháu chuyển từ Trường THCS T2, thành phố T1 sang học tại Trường THCS T3, thành phố T1 (gần nhà anh T). Tuy nhiên trong thời gian cháu K ở cùng với bố, anh T và gia đình tìm mọi cách để không cho chị và ông bà ngoại thăm nom cháu. Khi hai mẹ con gặp nhau, cháu K có nói với mẹ không muốn ở với bố và muốn mẹ đón về. Sau 32 ngày, cháu K quay trở về sống với mẹ và ông bà ngoại. Chị P1 không đồng ý với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh T. Hiện nay chị đang làm điều dưỡng viên tại Đại học Y T1, thu nhập ổn định, bình quân khoảng 7.000.000 đồng/1 tháng.

Đại diện chính quyền địa phương nơi cháu Ngô Nam K cư trú cung cấp nội dung như sau: Cháu Ngô Nam K đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 10, phường T2, thành phố T1 cùng địa chỉ với ông S và bà Đ1 (là ông bà ngoại của cháu K). Trước tháng 02/2022, chị Nguyễn Thị Thu P1 (mẹ cháu K) vẫn thường xuyên đi lại, có mặt tại nhà ông S, bà Đ1. Từ tháng 02/2022, chị P1 chuyển hẳn về sinh sống cùng ông S, bà Đ1 và cháu K. Cháu K phát triển khỏe mạnh, bình thường, hoạt bát, vui vẻ, hiện đang học tại Trường THCS T2, cách nhà ông S, bà Đ1 khoảng 200m. Hàng ngày ông S, bà Đ1 và chị P1 là người đưa đón cháu K đi học.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 Luật hôn nhân và gia đình không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh T.

Về án phí: Căn cứ Điều 24, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh Ngô Xuân T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, bị đơn cư trú tại thành phố Thái Bình nên căn cứ vào khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Ngô Xuân T: Quyết định giải quyết việc dân sự số 26/2013/QĐ-GQVDS ngày 18/4/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã công nhận sự thỏa thuận của anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị Thu P1, theo đó chị P1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Nam K và trên thực tế từ thời điểm quyết định có hiệu lực đến nay, cháu K do chị P1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T cho rằng chị P1 không có đủ điều kiện nuôi con nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Nam K. Xét thấy về điều kiện nuôi con thì cả anh T và chị P1 đều có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc con chung. Tuy nhiên tại các biên bản xác minh ở nơi cư trú và trường học của cháu K cũng như lời trình bày của ông S và bà Đ1 đều thể hiện: Chị P1 vẫn luôn đảm bảo cuộc sống ổn định, đầy đủ cho con, cháu K khỏe mạnh, phát triển bình thường, vui vẻ, hoạt bát, sạch sẽ, ngăn nắp, giao lưu với các bạn cùng trang lứa, tự lập trong sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Chị P1 là người đưa đón và thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về việc học tập của cháu. Bên cạnh đó trong quá trình nuôi dưỡng con chung, chị P1 cũng tạo điều kiện cho anh T được thăm nom, chăm sóc cháu K. Khi anh T có mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, chị đã động viên con về ở với bố, chị và gia đình đã chuyển toàn bộ quần áo, đồ dùng học tập, sinh hoạt của cháu K về nhà anh T và chuyển trường cho cháu từ Trường THCS T2, thành phố T1 sang học tại Trường THCS T3, thành phố T1 (gần nhà anh T). Nhưng cháu K ở cùng anh T được 33 ngày thì thấy không phù hợp nên quay về sống với chị P1. Như vậy, hiện tại chị P1 vẫn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T không đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc hiện tại chị P1 không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác cháu K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại. Để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định cho cháu K, cần tiếp tục giao cháu K cho chị P1 trực tiếp nuôi dưỡng. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Ngô Xuân T.

Về án phí: Do yêu cầu không được chấp nhận nên anh Ngô Xuân T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Xuân T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Ngô Nam K, sinh ngày 05/11/2010.

2. Về án phí: Anh Ngô Xuân T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000576 ngày 18/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình thành án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Ngô Xuân T, chị Nguyễn Thị Thu P1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ