- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Mai Văn H - Huỳnh Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nh n y u cầu khởi kiện của anh Mai Văn H đối v i chị Nguy n Thị Thu H.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HNGĐ-PT Ngày: 26-12-2022 V/v: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Vũ
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Cường
Bà Phạm Thị Thanh Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Khúc Tân Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Thúy - i m sát vi n.
Trong các ngày 23 và 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2022/TLPT-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2022, về “Tranh chấp ly hôn chia tài sản chung”; do Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/HNGĐ-ST, ngày 13 tháng 9 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 39/2022/QĐ-PT, ngày 09 tháng 11 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Mai Văn H, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp H1, xã H2, huyện H3, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Ng i o v quy n v v i h h p pháp ủa anh H: Chị V Hư ng Dương, sinh năm 1993 - lu t sư, thuộc công ty lu t TNHH MTV Bảo Minh ý; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1977; nơi cư trú: 965 đường 784 tổ 14 ấp Q1, xã Q2, huyện Q3, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ng i ó quy n i, nghĩa vụ iên quan: Em Mai Công H, sinh năm 1998; nơi cư trú: 965 đường 784 tổ 14 ấp Q1, xã Q2, huyện Q3, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi ki n ghi ng y 30 tháng 12 năm 2021 và quá trình gi i quyết vụ án, nguyên đơn anh Mai Văn H trình bày:
Anh và chị H tự nguyện chung sống vào năm 1997, không có đăng ký kết hôn. V chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2003 thì phát sinh mâu thu n, nguy n nhân là do hai b n bất đồng quan đi m, không còn chung sống t năm 2003 cho đến nay. Nay anh nh n thấy hai b n không ai còn tình cảm, đời sống chung không th kéo dài do đó y u cầu ly hôn v i chị H ồng.
- Về con chung: Có một con chung: Mai Công H, sinh năm1998. Con chung đ trưởng thành, tự lao động sinh sống đư c, không y u cầu Tòa án giải quyết.
- Về n chung: hông có, không y u cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: u cầu chia tài sản chung là phần đất 400 m2 đo đạc thực tế 397,3 m2 thửa 137 tờ bản đồ 59 thửa đất số 139 tờ bản đồ số 22 tại ấp Thu n An, xã Q2, huyện Q3, tỉnh Tây Ninh. Trị giá 1.924.803.000 đồng. Anh y u cầu tôi và chị H m i người đư c hưởng diện tích đất tranh chấp. Ngoài ra không còn tài sản chung nào khác.
Nguồn gốc đất: Chị H và anh chung sống t năm 1997, quá trình chung sống có tích cóp đư c khoản tiền đ dành nguồn tiền là do khi cư i hai b n cha m tôi cho 03 chỉ vàng 24 trị giá khoảng khoảng 400.000 đồng/01 chỉ vàng 25k, tiền hai đi làm việc dành dụm, do lâu cũng như chị H giữ tiền trong gia đình n n anh không nh .
Vào năm 1999, khi bà t T k u bán đất đang tranh chấp thì anh và chị H bàn bạc và quyết định mua đất v i giá 7.000.000 đồng. Do anh thường xuy n đi làm xa Campuchia n n thử tục nh n chuy n như ng đất toàn bộ do chị H thực hiện. Cùng năm 1999, anh và chị H cất nhà vách đất, cột cây tr n đất tranh chấp. Có làm hộ khẩu v i địa chỉ là tại đất này.
Năm 2003 anh và chị H không còn chung sống, tự nguyện làm giấy ly hôn, không có đến Tòa án làm thủ tục ly hôn. úc đó anh và chị H có làm giấy “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003, trong giấy có anh, chị H ồng, cha m của hai b n là Mai Văn N , Nguy n Văn Dốc, Thị, Nguy n Thị óc ký t n làm ch ng và đồng ý v i các nội dung anh và chị H đ th a thu n th hiện trong giấy. Theo nội dung “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003, anh, chị H đ th a thu n: Phần đất 400 m2 đ lại cho con chung Mai Công H khi con đủ 18 tuổi.
au khi anh và chị H th a thu n b ng “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003 xong thì anh đi Campuchia làm, việc làm thủ tục giấy tờ sau đó là do bà t T và chị H thực hiện, anh đi làm xa n n không r việc làm thủ tục.
Do tại “Đơn xin ly hôn” anh và chị H th a thu n không ai đư c ở và mua bán đất tranh chấp n n sau đó không có ai ở tr n nhà đất này nữa. Anh đi làm campuchia, chị H về nhà m ruột ở.
hoảng năm 2004-2005 anh về d b căn nhà tr n đất tranh chấp do nhà b lâu không ai ở nhà đ xuống cấp. au đó đất b trống cho đến nay.
Trư c đây anh và chị H đ th a thu n cho con chung đất tranh chấp, nhưng do nay anh không có nơi ở n n tôi không đồng ý v i th a thu n trư c đây nữa. Nay anh y u cầu anh và chị H m i người đư c hưởng diện tích đất tranh chấp.
Bị đơn, hị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Th a nh n lời khai của anh H về quan hệ hôn nha, việc không đăng ký kết hôn là đúng. Chị đồng ý y u cầu không công nh n v chồng của anh H.
- Về con chung: Có một con chung: Mai Công H, sinh năm 1998. Con chung đ trưởng thành, tự lao động sinh sống đư c, không y u cầu Tòa án giải quyết.
- Về n chung: hông có, không y u cầu Tòa án giải quyết.
- Về y u cầu chia tài sản chung là phần đất 400 m2 thì chị không đồng ý. Các lý do anh H trình bày đ cho r ng đất tranh chấp là tài sản chung thì chị không đồng ý.
Đất tranh chấp là tài sản ri ng của chị, lý do:
Tiền mua đất tranh chấp là tiền ri ng của ri ng của chị, nguồn gốc là cha m ruột cho năm 1993 - cho 01 bộ vòng xi men 1,1 cây vàng 18k trị giá khoảng 3-4 triệu đồng; 01 dây chuyền 1,3 chỉ vàng 18k trị giá khoảng 500.000 đồng, cư i anh H xong thì m ruột cho 01 chỉ vàng 24k trị giá khoảng 400.000 đồng. hi cư i thì cha m anh H cho v chồng 03 chỉ vàng 24k nhưng khi sinh con đ bán sử dụng hết.
Về tiền dành dụm của hai v chồng là không có, lý do: Cư i nhau là ngày 06 tháng 9 năm 1997 âm lịch, thì tôi có con chung 16-6-1998 n n không có tiền. Thời đi m này chị bán bánh canh hủ tiếu, anh H làm hồ, tiền không đủ xài. úc m i cư i anh chị ở tại căn nhà tạm của cha m ruột chị - n m tr n đất của của cha m ruột chị.
Năm 1999 bà t T bán đất, m chị đ đ ng ra mua đất giùm cho chị. Đất lúc này đ ng t n GCNQ DĐ là ông Phạm Văn N, nhưng bà t T đ mua giấy tay của ông N (ông N đ chết . Bà t T là bán cho m ruột chị ch không có đ ng bán cho chị và anh H.
Chị đồng ý mua đất của bà t T n n đưa toàn bộ 01 bộ vòng xi men 1,1 cây vàng 18k; 01 dây chuyền; 1,3 chỉ vàng 18k cho m chị. Việc mua đất này chị tự quyết định, không có nói gì v i anh H, nguy n nhân là vàng này của cha m ruột chị cho ri ng chị, không có li n quan anh H.
Năm 1999 khi mua đất xong thì chị và anh H cất nhà tr n đất tranh chấp ở. Anh H biết r đất này là do chị dùng vàng ri ng của chị đ mua đất, anh H không có ý kiến gì.
Năm 2003, anh H có người phụ nữ khác, có con 06 tháng n n hai b n thống nhất ly hôn. Hai b n tự thống nhất, không có đến Tòa án. Hai b n có làm văn bản là “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003, chị và anh H đ th a thu n: Giải thoát cho nhau, còn phần đất 400 m2 đang tranh chấp đ lại cho con chung Mai Công H. Trong giấy có chị, anh H, Mai Văn N cha ruột anh H , Nguy n Văn D cha ruột chị , Thị m ruột anh H , Nguy n Thị m ruột chị ký t n làm ch ng và đồng ý v i các nội dung tôi và anh H đ th a thu n th hiện trong giấy.
au khi th a thu n “Đơn xin ly hôn” xong thì không có ai ở tr n nhà đất này nữa. Chị về nhà m ruột ở. hoảng năm 2004-2005 anh H về d b căn nhà tr n đất, sau đó đất b trống cho đến nay.
Năm 2006 ông N làm thủ tục tách thửa, sang t n giấy CNQ DĐ cho chị đ ng t n.
ý do khi con H trưởng thành mà chị chưa sang t n cho con theo như th a thu n tại “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003, vì: Con tôi chung sống v i người đàn ông khác, chị thấy lệch lạc s con bị dụ hết tài sản n n chị v n khuy n bảo con, khi nào con thông suốt thì s sang t n cho con. au này con bị căn bệnh, tôi thương con n n quyết định sang t n cho con, nhưng H u nói tôi c giữ giùm con.
Thời đi m đang dịch Covid 19 chị có dự định làm di chúc cho con nhưng không làm đư c, nay tranh chấp thì càng không làm đư c.
Nay anh H y u cầu chị và anh H m i người đư c hưởng diện tích đất tranh chấp thì chị không đồng ý. Đây là tài sản ri ng của chị, chị không đồng ý chia cho anh H.
Về n chung: hông có, không y u cầu giải quyết.
Em Mai Công H trình y:
hi em đến tuổi trưởng thành, lúc này em đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh, m có nói em về nhà đ làm thủ tục sang t n quyền sử dụng đất. Do em b n việc n n trì ho n đến nay. Đây là tài sản ri ng của m , đề nghị Tòa án xem xét
Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST, ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đ quyết định:
Chấp nh n y u cầu khởi kiện của anh Mai Văn H đối v i chị Nguy n Thị Thu H.
Không công nh n anh Mai Văn H và chị Nguy n Thị Thu H là v chồng.
Về con chung: Có một con chung: Mai Công H, sinh ngày 16-6-1998.
Con chung đ trưởng thành, tự lao động sinh sống đư c, không y u cầu Tòa án giải quyết.
Anh Mai Văn H đư c quản lý, sử dụng diện tích đất 196,5 m2 đất ONT thuộc một phần thửa đất số 139 tờ bản đồ 22.
Chị Nguy n Thị Thu H đư c quản lý, sử dụng diện tích đất 200,8 m2 đất ONT, thuộc một phần thửa đất số 139 tờ bản đồ 22.
Anh Mai Văn H có ngh a vụ trả cho chị Nguy n Thị Thu H số tiền 133.583.877 đồng.
Chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại ch : Chị Nguy n Thị Thu H có trách nhiệm trả cho anh Mai Văn H số tiền 15.500.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Mai Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, 300.000 đồng án phí cấp dư ng nuôi con và 40.872.000 đồng án phí chia tài sản chung, tổng cộng 41.472.000 đồng. Chị Nguy n Thị Thu H phải chịu 40.872.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền, ngh a vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, chị Nguy n Thị Thu H kháng cáo, y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, giao cho chị đư c chia 2/3 tài sản chung.
Tại phi n tòa phúc thẩm: Chị H giữ nguy n y u cầu kháng cáo.
Ý kiến ủa Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký phi n tòa đ tuân thủ đúng theo quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nh n kháng cáo của chị H, giữ nguy n bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn ứ v o các hứng ứ, t i i u đã đ xem xét tại phiên tòa, kết qu tranh tụng tại phiên tòa; xét kháng áo ủa hị Nguyễn Thị Thu H, ý kiến ủa đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về tố tụng:
Ngày 23-9-2022, Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm. Ngày 27-9-2022, chị H có đơn kháng cáo. Trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Theo th a thu n của anh H v i chị H ngày 25-8-2003, cho phần đất đang tranh chấp cho con, sau khi con l n l n đư c toàn quyền sử dụng nhưng cấp sơ thẩm đưa cháu H tham gia tố tụng v i tư cách là người làm ch ng là không đúng, cấp phúc thẩm xác định lại cháu H là người có quyền l i, ngh a vụ li n quan. Tại phi n tòa, cháu H đồng ý tham gia phi n tòa v i tư cách người có quyền l i, ngh a vụ li n quan.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Văn H và chị Nguy n Thị Thu H tự nguyện chung sống v chồng t năm 1997, có tổ ch c l cư i, không đăng ký kết hôn, đến năm 2003, anh chị không còn chung sống nữa. Do anh H, chị H tự nguyện chung sống v chồng có đủ điều kiện kết hôn theo u t Hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quyền và ngh a vụ giữa v và chồng, n n Tòa án cấp sơ thẩm tuy n bố không công nh n anh Mai Hăn Hùng và chị Nguy n Thị Thu H là v chồng là đúng quy định của pháp lu t.
Về con chung: Anh H, chị H có một con chung là Mai Công H u, sinh ngày 16-6-1998 đ thành ni n tự lao động, sinh sống đư c.
Về tài sản chung: Anh H cho r ng trong quá trình chung sống v i chị H có tích góp đư c khoản tiền đ dành vàng cư i 03 chỉ vàng 24k, tiền đi làm dành dụm, chị H giữ tiền n n anh không nh , năm 1999 anh chị mua một phần đất của bà t ... 400 m2 v i giá 7.000.000 đồng, cất nhà vách đất cột cây và làm hộ khẩu tại đất này. Năm 2003, anh H và chị H tự nguyện ly hôn, theo đôn xin ly hôn đề ngày 25-8-2003, anh H, chị H đ th a thu n: Đất thổ cư đ lại cho con Mai Công H u sau này l n l n nó đư c quyền sử dụng, v chồng không ai đư c ở và mua bán.
Chi Hồng cho r ng: Đất anh H đang tranh chấp y u cầu chia hai là tài sản ri ng của chị. Tiền mua đất là tiền ri ng của chị, bán số vàng cha m ruột chị cho chị mua đất; còn 03 chỉ vàng cư i 24k lúc sinh con đ bán hết đ chi phí sinh con, lo cho con.
Ngày 27-9-2022, chị H có đơn kháng cáo không đồng ý chia 02 phần đất đang tranh chấp. ý do: Đất anh H đang y u cầu chia có đư c do cha m ruột chị cho, chị y u cầu Tòa án giải quyết đ lại cho con nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho anh H quản lý sử dụng 196,5 m2 chị không đồng ý n n chị kháng cáo yêu cầu Tòa án cho chị đư c hưởng 2/3 tài sản là 265 m2 đất và nh n tiền cấp dư ng nuôi con 144.000.000 đồng khấu tr vào.
Tại phi n tòa phúc thẩm, chị H thay đổi y u cầu kháng cáo, y u cầu tài sản là quyền sử dụng đất đang tranh chấp đ lại cho con; chị cũng không nh n 144.000.000 đồng mà anh H cấp dư ng nuôi con trong thời gian chị nuôi con trư c đây.
ét kháng cáo của chị H thấy r ng: Chị H cho r ng nguồn gốc tài sản đang tranh chấp có đư c t nguồn tiền của chị, chị không đồng ý chia cho anh H
tài sản, tài sản này đ lại cho con. Tại giấy “Đơn xin ly hôn” đề ngày 25-8-2003 có ghi: V chồng chung sống v i nhau đư c 6 năm, sinh một đ a con t n Mai Công H u và một miếng đất thổ cư chiều ngang 10m, chiều dài 40m... V chồng tôi đồng lòng quyết định ly hôn. Đất thổ cư đ lại cho con là Mai Công H u sau này l n l n nó đư c toàn quyền sử dụng. V chồng không ai đư c ở và mua bán, có cha m hai b n đồng ý ký t n. Đến ngày 18-8-2006, chị H m i đ ng t n giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Như v y, có cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp có diện tích 392 m2, tại thửa 139, tờ bản đồ số 22 tại xã Q2, huyện Q3 đo đạc thực tế 397,3 m2) anh H, chị H xác định là của chung và đ lại cho con Mai Công H u sau này l n l n đư c quyền sử dụng.
Án sơ thẩm nh n định việc tặng cho đất của anh H, chị H cho con chung là đơn phương, không có bồi thường, quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký, không thực hiện l p h p đồng tặng cho, không thực hiện làm thủ tục sang t n quyền sử dụng đất n n th a thu n về tài sản chung th hiện tại đơn xin ly hôn ngày 25-8-2003 chưa có hiệu lực pháp lu t. Tuy nhi n theo quy định tại Điều 16 u t Hôn nhân và gia đình: Giải quyết quan hệ tài sản của nam, nữ chung sống v i nhau như v chồng mà không đăng ký kết hôn đư c giải quyết theo th a thu n của các b n. Như v y, ngày 25-8-2003, trong tờ “Đơn xin ly hôn” mặc dù Tòa án chưa giải quyết nhưng anh H, chị H trả tự do cho nhau và đất đang tranh chấp đ lại cho con Mai Công H u các b n tự th a thu n nhưng do con chưa trưởng thành n n chưa giao quyền sử dụng đất cho con, con trưởng thành s giao quyền sử dụng đất cho con. Tại phi n tòa sơ thẩm, phúc thẩm, cháu Mai Công H u không đồng ý anh H chia tài sản này và cho r ng tài sản này đ cho con rồi n n không đư c chia.
Chị H kháng cáo y u cầu không chấp nh n chia tài sản quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất cho cháu H là có cơ sở chấp nh n kháng cáo của chị H.
Tại phi n tòa sơ thẩm, anh H đồng ý cấp dư ng cho cháu H 144.000.000 đồng tiền chị H nuôi con trư c đây lúc chưa thành ni n. Tại phi n tòa phúc thẩm hôm nay, chị H cho r ng chị nuôi con, con đ trưởng thành rồi, chị không nh n 144.000.000 đồng tiền anh H giao cho chị
Về án phí phúc thẩm:
Vì các l tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c
1. Chấp nh n y u cầu khởi kiện của anh Mai Văn H đối v i chị Nguy n Thị Thu H.
1.1. Không công nh n anh Mai Văn H và chị Nguy n Thị Thu H là v chồng.
1.2. Về con chung: Có một con chung:
Mai Công H, sinh ngày 16-6-1998.
Con chung đ trưởng thành, tự lao động sinh sống đư c, không y u cầu Tòa án giải quyết.
1.3. Anh Mai Văn H đư c quản lý, sử dụng diện tích đất 196,5 m2 đất ONT thuộc một phần thửa đất số 139 tờ bản đồ 22.
1.4. Chị Nguy n Thị Thu H đư c quản lý, sử dụng diện tích đất 200,8 m2 đất ONT, thuộc một phần thửa đất số 139 tờ bản đồ 22.
Đất đư c chia có sơ đồ bản v kèm theo.
1.5. Đất đư c chia có giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số AG 175158, số vào sổ H 03254 ngày 18-8-2006 do UBND huyện Dương Minh Châu cấp cho chị Nguy n Thị Thu H đ ng t n. Đất t a lạc tại ấp Thu n An, xã Q2, huyện Q3, tỉnh Tây Ninh.
1.6. iến nghị ở Tài nguy n và Môi trường tỉnh Tây Ninh điều chỉnh giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số AG 175158, số vào sổ H 03254 ngày 18-8-2006 do UBND huyện Q3 cấp cho chị Nguy n Thị Thu H đ ng t n, đất t a lạc tại ấp Thu n An, xã Q2, huyện Q3, tỉnh Tây Ninh theo quyết định của bản án.
1.7. Anh Mai Văn H có ngh a vụ trả cho chị Nguy n Thị Thu H số tiền 133.583.877 (một trăm a m ơi a tri u năm trăm tám m ơi a nghìn tám trăm y m ơi y) đồng.
2. Chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại ch :
Chị Nguy n Thị Thu H có trách nhiệm trả cho anh Mai Văn H số tiền 15.500.000 (M i ăm tri u năm trăm nghìn) đồng.
t khi người đư c thi hành án có y u cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thì hành án còn phải có ngh a vụ trả cho người đư c thi hành án phần l i suất ch m thực hiện ngh a vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bô lu t Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Anh Mai Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, 300.000 đồng án phí cấp dư ng nuôi con và 40.872.000 đồng án phí chia tài sản chung, tổng cộng 41.472.000 đồng, đư c khấu tr vào 2.800.000 đồng tiền tạm ng án phí đ nộp số 0012046, số 0012045 cùng ngày 21-01-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Q3, tỉnh Tây Ninh. Anh Mai Văn H còn phải nộp th m 38.672.000 ( a m ơi tám tri u sáu trăm y m ơi hai nghìn) đồng.
3.2. Chị Nguy n Thị Thu H phải chịu 40.872.000 ( ốn m ơi tri u tám trăm y m ơi hai nghìn) đồng.
4. Về án phí phúc thẩm:
Trường h p quyết định đư c thi hành án theo quy định tại Điều 2 của u t thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của u t thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 của u t thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t k t ngày tuy n án.
| Nơi nhận: - VKSND TTN; - Phòng KTNV.TAT; - TAND huyện, thành phố; - Chi cục THAD huyện, thành phố; - Những người tham gia tố tụng; - ưu hồ sơ vụ án; - ưu t p án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ kí Trần Tuấn Vũ |