- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 42/2022/DS-ST Ngày: 31-05-2022 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Ngọc Liêm
2. Ông Huỳnh Văn Dứt
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử
sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 03 năm
2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 197/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 04 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên
tòa số: 187/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà N T B T(Trang), sinh năm 1966; địa chỉ: số 442 (khu II)
ấp ML, xã MA, huyện CM, tỉnh AG(có mặt);
2. Bị đơn: Bà N T T L, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp ML, xã MA, huyện CM,
tỉnh AG(vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tự khai của bà N T B Ttrong quá trình giải quyết vụ
án trình bày: Vào ngày 25/12/2019 bà N T T L có tham gia hụi 1.000.000
đồng/tháng, hụi do bà N T B T(Trang) làm chủ hụi, hụi gồm 24 hụi viên, hụi hưởng
hoa hồng 500.000 đồng/tháng, trong đó bà L tham gia 01 phần, bà L đã hốt lần 1
vào ngày 25/12/2019, sau đó còn 10 lần hụi không góp với số tiền 10.000.000 đồng. Vì vậy, bà N T B Tyêu cầu buộc bà N T T L có trách nhiệm trả tiền nợ hụi là 10.000.000 đồng.
Bị đơn: Bà N T T L đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng
vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bà đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà L vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Tại phiên tòa:
Bà N T B Tvẫn giữ quan điểm như đã trình bày, và không giao nộp thêm tài
liệu chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
- Đối với người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ
đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71, Điều 72 và Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà N T T L có tham gia 01 dây hụi do bà N T B Tlàm chủ, hụi
khui ngày 25/12/2019al, (hụi mãn 25/10/2021al), có 24 người tham gia, bà L tham gia 01 phần và hốt hụi lần đầu, sau đó, có chầu hụi chết được 13 lần đến ngày 25/12/2020 thì ngưng nên còn nợ lại 10 tháng, tổng số tiền là 10.000.000đồng. Nay bà T khởi kiện, yêu cầu bà L trả số tiền 10.000.000đồng.
Bà L từ khi thụ lý vụ án đã được Tòa án thực hiện thủ tống đạt các văn bản
tố tụng, thông báo đúng quy định nhưng bà L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Xét thấy, hợp đồng hụi giữa bà T và bà L được xác lập trên cơ sở tự nguyện,
thể hiện qua bảng hợp đồng góp hụi ngày 25/12/2019. Tại bảng hợp đồng hụi nêu trên bà L có ký tên nhận tiền hụi lần đầu vào ngày 26/12/2019, nhận 18.590.000đồng. Sau khi hốt hụi, bà L không thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, chầu hụi đến ngày 25/12/2020 thì ngưng hụi, còn nợ lại số tiền 10.000.000 đồng. Vì vậy, đã vi phạm nghĩa vụ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bà L vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên bà T khởi kiện là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự. Từ những phân tích trên, căn cứ các Điều 471 Bộ luật Dân sự, đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N T B Tđối với bà N T T L. Buộc bà N T T L trả cho bà N T B Tsố tiền 10.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn bà N T T L về hợp
đồng góp hụi được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
và bị đơn có nơi cư trú: xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án
nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà N T T L đã được triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N
T T L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án:
Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng góp hụi, trên cơ sở
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của nguyên đơn; căn cứ
vào bảng hợp đồng góp hụi ngày 25/12/2019 giữa chủ hụi bà N T B T(Trang) và
hụi viên bà N T T L, thì thấy, tại bảng hợp đồng hụi thể hiện bà L có ký tên nhận
tiền hụi lần đầu ngày 26/12/2019, nhận số tiền là 18.590.000đồng. Sau khi hốt hụi,
bà L có chầu hụi đến ngày 25/12/2020 thì bà L không thực hiện nghĩa vụ góp hụi
và còn nợ lại số tiền 10.000.000 đồng.
Xét thấy, bà N T T L trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa
đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng
bị đơn bà L vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào
để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó,
đủ căn cứ để xác định bị đơn có tham gia góp hụi của nguyên đơn và vẫn còn nợ
tiền hụi là 10.000.000 đồng, do bà L vi phạm nghĩa vụ của hụi viên nên theo yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận.
Buộc bà N T T L có trách nhiệm trả cho bà N T B Tsố tiền là 10.000.000 (Mười
triệu) đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận
nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Bà N T T L phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm là 500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N T B Tđối với bà N T T L.
Buộc bà N T T L có trách nhiệm trả cho bà N T B Tsố tiền 10.000.000
(Mười triệu) đồng.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Bà N T T L phải chịu 500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Hoàn lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà N T B
Ttheo biên lai thu số 0010344 ngày 09/03/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các
đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |