- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T: Cô ý gây TT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật hình sự + Xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự + Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HS-ST Ngày: 09 – 07 – 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Tấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phƣợng
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Minh Thu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/HS-ST, ngày 02 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đua vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Quốc T, sinh năm 2000, tại G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: ấp 18, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị N; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Vắng mặt)
- Bị hại: Ông Lê Chí H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: ấp 18, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 11 năm 2020, khi nhìn thấy bị cáo cầm ếch và nghi ngờ bị cáo bắt ếch nhà mình nên ông H qua nhà bị cáo và nói “sau này tao thấy mày qua bắt ếch của tao một lần nữa thì tao sẽ đánh mày”, nói xong ông H quay lưng đi vừa đến nhà của ông Trần Văn K thì bị cáo cầm dao đang làm ếch (loại dao làm cá) chạy đến chém vào người anh H gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 209/TgT, ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích ông H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Một vết thương chưa thành sẹo ở hông trái. Tỷ lệ 02%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải;
- Một vết thương chưa thành sẹo ở 1/3 sau trên cẳng tay trái, cách mỏm khuỷu 10cm. Tỷ lệ 03%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải;
- Một vết thương chưa thành sẹo ở 1/3 sau trên cẳng tay trái, cách mõm khuỷu 12cm. Tỷ lệ 03%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải;
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 08%.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSGR ngày 31 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã G để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê Quốc T về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G giữ nguyên quyết định truy tố và đề xuất áp dụng như sau:
+ Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 137 của Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về vật chứng tịch thu tiêu hủy 01 cây dao (loại dao làm cá) bằng kim loại, màu đen, cán dao và lưỡi dao làm bằng kim loại nối liền nhau, mũi dao nhọn, dao có chiều dài (bao gồm cán và lưỡi) 36cm, nơi rộng nhất là 7,5cm
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Ý kiến bị hại:
+ Về trách nhiệm hình sự: Yêu cầu xử lý về hình sự đối với bị cáo, theo quy định của pháp luật
+ Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Bị cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận nên việc xét xử vắng mặt của bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận: Thương tích 8% của ông H là do bị cáo dùng dao gây ra, bằng hành vi cầm dao đang làm ếch (loại dao làm cá bằng kim loại, màu đen, cán dao và lưỡi dao làm bằng kim loại nối liền nhau, mũi dao nhọn, dao có chiều dài (bao gồm cán và lưỡi) 36cm, nơi rộng nhất là 7,5cm) chém vào người ông H hướng từ trên xuống, ông H đưa tay trái lên đỡ dẫn đến bị thương ở cách tay trái, bị cáo tiếp tục dùng dao chém ngang 2, 3 cái nữa gây thương tích ở phần hong bên trái.
. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ–HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hung khí mà bị cáo gây thương tích cho bị hại là hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra giữa bị cáo và bị hại xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo có hành vi lấy dao chém bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn yêu cầu nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù là phù hợp.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất trật tự tình hình trị an tại địa phương và dư luận xuất trong xã hội. Đồng thời với tính chất và mức độ mà bị cáo gây thương tích cho bị hại thì việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, nhằm răn đe giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G đề xuất là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về vật chứng vụ án sẽ bị tịch thu tiêu hủy vì đây là công vụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
. Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Quốc T phạm tội: “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quốc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao làm cá) bằng kim loại, màu đen, cán dao và lưỡi dao làm bằng kim loại nối liền nhau, mũi dao nhọn, dao có chiều dài (bao gồm cán và lưỡi) 36cm, nơi rộng nhất là 7,5cm
Do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G đang tạm giữ và quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 4 năm 2021.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Giao bị cáo; - Giao bị hại; - Giao người bào chữa (nếu có); - Giao Viện kiểm sát cùng cấp; - Gửi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; - Gửi Cơ quan điều tra cùng cấp; - Gửi Cơ quan thi hành án hình sự - Trại tạm giam nơi bị cáo giam giữ (nếu có); - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |