- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đại Nghĩa - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đại N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN N DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HS-ST Ngày: 29/10/2021 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm N dân: Ông Nguyễn Bá Soa
Bà PH Thị Quỳnh Hòe
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án N dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công THnh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án N dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2021/TLST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo: Trần Đại N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1997. Giới tính: Nam Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh H Tĩnh Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Trần Văn V, sinh năm 1957. Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1959. Trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh H Tĩnh. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 04. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự, N thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 15/8/2021 đến nay tại NH tạm giữ, Công an thị xã Cửa Lò tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: Công ty cổ phần H LOGISTICS Địa chỉ: 81 T, P. T, Quận 7, TP Hồ Chí M Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Trọng D, sinh 23/12/1992 Nơi cư trú: Xóm 08, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: +. Anh: Lê Mạnh N, sinh ngày 15/12/1991. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh H Tĩnh +. Anh: Võ Văn H, sinh ngày 22/12/1980. Vắng mặt.
- 1 -
Nơi cư trú: Khối Y, phường N, Thị xã C, tỉnh Nghệ An +. Anh: Lê Văn T, sinh ngày 26/07/1985. Vắng mặt. Nơi cư trú: Xóm 02, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An +. Anh: Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 01/01/1982. Vắng mặt. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An +. Anh: Bùi Đức M, sinh ngày 04/06/1993. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn 03, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh +. Anh: Trần Văn Q, sinh ngày 05/05/1991. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 14 tháng 8 năm 2021, tại khu vực Cảng C thuộc phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở trong khâu quản lý giao nhận hàng, Trần Đại N đã thuê xe ô tô lại khu vực máng xả ngô của Công ty cổ phần H Logistics lấy trộm 950 kg ngô hạt. Giá trị tài sản Trần Đại N chiếm đoạt là 6.650.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Đại N khai nhận về hành vi phạm tội như sau:
Trên cơ sở quen biết anh Lê Mạnh N và có thời gian làm nhân viên của Công ty cổ phần H Logistics phụ trách việc giao nhận hàng hóa tại cảng Cửa Lò, anh N đã nhờ và N đồng ý tham gia giúp anh N quản lý, giám sát việc giao, nhận hàng ngô hạt tại cảng Cửa Lò cho Công ty cổ phần H Logistics. Trong các ngày 12, 13, 14 tháng 8 năm 2021, Trần Đại N làm cùng anh Lê Mạnh N để giao nhận hàng của công ty Cổ phần H Logistics cho Công ty vận tải An Phú. Trong quá trình làm việc, Trần Đại N phát hiện thấy có sơ hở trong quá trình giao, nhận hàng ngô hạt nên nảy sinh ý định trộm cắp ngô mang về bán thu lợi bất chính.
Để thực hiện ý định trộm cắp tài sản, khoảng 17 giờ ngày 14/8/2021, Trần Đại N gọi điện cho anh Lê Văn T là công nhân Cảng Cửa Lò nhờ anh T thuê 01 xe tải giống xe của Công ty An Phú, hứa trả công cho anh T 1.000.000 đồng, anh T đồng ý. Anh T gọi điện cho anh Võ Văn H nhờ H thuê xe. Anh Võ Văn H đi vào Cảng Cửa Lò và gặp anh Nguyễn Mạnh H, là người điều khiển xe ô tô 37C – 32424 để thuê anh H chở hàng với giá 1.000.000 đồng, anh H đồng ý. Anh H báo cho anh T, T báo cho bị cáo N đã thuê được xe. Bị cáo nhờ anh T tìm bãi và bạt để đổ Hng, anh T gọi điện cho anh H nhờ tìm bãi và bạt giúp N.
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 14/8/2021, bị cáo gọi điện cho anh Bùi Đức M là người lái xe tải dịch vụ để thuê anh M đến thị xã Cửa Lò chở hàng là ngô hạt về Hà Tĩnh và mua giúp bao bì để đóng gói ngô hạt, anh M đồng ý. Bị cáo điện thoại tiếp cho anh Trần Văn Q để thuê anh Q đi cùng Bùi Đức M đến thị xã Cửa Lò bốc Hng, anh Q đồng ý. Sau đó bị cáo nói với anh Lê Mạnh N xin
- 2 -
tối hôm đó nghỉ việc và về phòng trọ. Tuy nhiên, bị cáo không về phòng trọ mà trốn ở lại khu vực cảng để theo dõi. Bị cáo nắm được quy luật nhận hàng, Công ty An Phú chỉ có 04 xe, khi xe thứ 04 nhận hàng xong thì anh N phải ra trạm cân để xác định khối lượng, khoảng thời gian trống còn lại dài và N tiếp cận được khu vực phía trong. Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 14/8/2021, khi xe thứ 04 của Công ty An Phú nhận hàng gần xong và thấy anh N đi ra trạm cân, N ra cổng cảng Cửa Lò gặp anh Nguyễn Mạnh H, ngồi vào ghế phụ của xe anh H và hướng dẫn anh H đi vào khu vực cảng, điều khiển xe lại máng xả. Khi thấy xe lùi vào máng xả, công nhân xả phễu cho ngô hạt lên thùng xe, được một lúc, bị cáo nói anh H cho xe ra khỏi cổng cảng, đi đến khu vực ngã tư ông Điều thuộc xóm Trung Đền, xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc. Bị cáo nói anh H lái xe đến bãi đất trống anh H tìm trước đó. N lấy bạt anh H đưa, trải xuống bãi đất trống, sau đó anh H cho xe đổ ngô hạt xuống, N trả cho anh H 1.000.000 đồng, anh H cho xe đi. N nhờ anh H đi tìm dụng cụ để xúc ngô hạt. Lúc này, anh Bùi Đức M và Trần Văn Q đã đưa xe đến để chở hàng. N cùng anh M, Q đang đóng ngô hạt vào bao bì để đưa lên xe thì nghe có người hô “Trộm, đứng lại”, N liền nói với anh M, Q “đi đi” rồi N bỏ chạy. Anh M và anh Q thấy vậy nên lên xe đi về nhà.
Anh N sau khi nghe bảo vệ cảng phản ánh có dấu hiệu xe nghi vấn có xe lạ vào nhận hàng đã trình báo Công an phường Nghi Tân. Đến khoảng 09 giờ ngày 15/8/2021, anh N phát hiện số ngô hạt bị mất tại ngã tư ông Điều thuộc xóm Trung Đền, xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc nên đã đã trình báo cho công an. Công an phường Nghi Tân đã tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng. Cùng ngày, Công an thị xã Cửa Lò đã tiến hành cân, xác định trọng lượng số ngô thu giữ là 950kg. Đến 17 giờ 00 phút ngày 15/8/2021, N đến Công an phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò đầu thú.
Tại Kết luận định giá tài sản số 534/HĐĐG ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Cửa Lò xác định: Giá trị 950kg ngô hạt tại thời điểm tài sản bị chiếm đoạt là 6.650.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 43/CT – VKS - CL ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Trần Đại N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đại N từ 03 tháng tù đến 05 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, nay bị hại không có yêu cầu gì, miễn xét.
Về vật chứng: Đối với 20 bì xác rắn màu cam, bên trong đựng ngô hạt có tổng khối lượng 950kg, đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét. Đối với 01 (Một) tấm bạt sọc màu đỏ, trắng, xanh kích thước 6 x 8m không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- 3 -
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đại N nhận tội, đồng ý với nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa hình sự nhưng vắng mặt không có lý do. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ; xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở để kết luận: Do được anh Lê Mạnh N – Nhân viên Công ty cổ phần H Logistics nhờ làm việc giúp anh N quản lý, giám sát việc giao, nhận Hng ngô hạt tại cảng Cửa Lò cho Công ty cổ phần H Logistics. Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 14 tháng 8 năm 2021, tại khu vực Cảng Cửa Lò thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở trong khâu quản lý giao nhận Hng, Trần Đại N đã thuê xe ô tô lại khu vực máng xả ngô của Công ty cổ phần H Logistics lấy trộm 950 kg ngô hạt. Giá trị tài sản Trần Đại N chiếm đoạt là 6.650.000 đồng.
Hnh vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Đại N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 6.650.000 đồng, do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Cách thức thực hiện hành vi khá tinh vi, coi thường pháp luật, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Hành vi của mình là vi phạm pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm minh,
- 4 -
tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án:
Tại thời điểm phạm tội bị cáo có không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tài sản chiếm đoạt trị giá không lớn, đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS và mục đích của hình phạt cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật; mức hình phạt từ 03 tháng tù đến 05 tháng tù mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là thỏa đáng và đúng mức, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Lê Văn T, Võ Văn H là những người thuê xe ô tô và tìm bạt giúp Trần Đại N, được N hứa trả công nhưng khi nói anh T thuê xe, tìm bạt, anh T nhờ qua anh H. Anh T, anh H đều không biết nguồn gốc ngô hạt bị cáo nói thuê xe vận chuyển là tài sản do trộm cắp mà có. Bản thân bị cáo từng có thời gian làm việc quản lý, giao nhận tài sản của Công ty cổ phần H LOGISTICS tại cảng Cửa Lò nên anh T, anh H đều tin bị cáo là chủ sở hữu, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh T, anh H.
Đối với anh Nguyễn Mạnh H là người được thuê xe chở ngô hạt từ trong cảng ra ngã tư ông Điều thuộc xóm Trung Đền, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc nhưng khi nhận chở thuê ngô hạt, anh H không giao dịch trực tiếp với bị cáo N, không biết N là ai mà nhận lời chở thuê từ anh H. Sau khi chở Hng, đổ Hng tại ngã tư ông Điều đã nhận đủ số tiền chở Hng do bị cáo N trả theo thỏa thuận với anh H, không biết đó là tài sản do bị cáo N trộm cắp nên không phạm tội.
Đối với anh Trần Đức M, anh Trần Văn Q là người cùng quê với bị cáo, khi bị cáo điện thoại thuê xe ra Cửa Lò chở ngô hạt, bốc vác ngô hạt chở về nH bị cáo, họ đều không biết ngô hạt đó là tài sản do N trộm cắp mà có, họ chỉ là người nhận chở thuê, bốc thuê, không được bị cáo bàn bạc, bị cáo không nói đó là tài sản trộm cắp, đều tin rằng tài sản ngô hạt bị cáo thuê chở, thuê bốc vác là chủ sở hữu nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
Về vật chứng:
- Đối với 20 bì xác rắn màu cam, bên trong đựng ngô hạt có tổng khối lượng 950kg, đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- 5 -
- Đối với 01 tấm bạt sọc màu đỏ, trắng, xanh kích thước 6 x 8m thu giữ tại hiện trường, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đại N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Đại N 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (15/08/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Đại N.
3. Về dân sự: Miễn xét
4. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) tấm bạt sọc màu đỏ, trắng, xanh kích thước 6 x 8m theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2021.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đại N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: [ơ - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi Cục THADS thị xã Cửa Lò; - CQ Cảnh sát điều tra thị xã Cửa Lò; - Bị cáo, bị hại; NCQLNVLQ - Lưu HSVA. - 6 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |