vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo A B phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo A B 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam là ngày 10/3/2021. Về trách nhiệm dân sự: Tách để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A B phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày: 24 – 11 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thành.

Thẩm phán: Ông Trần Tỷ.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Sơn;

2. Bà Rơ Châm Lê;

3. Ông Rơ Đăm Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lương -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Phạm Thành Trung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49 2021 TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021 QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:

A B; Sinh năm 1986 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0 12; Dân tộc: Mơ Nâm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông A N và bà Y R (đã chết); v là Y Nh (đã chết, không có đăng ký kết hôn); có 02 con, con lớn nh t sinh năm 2008, con nhỏ nh t sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 10 3 2021 đến nay có m t tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Minh T – Văn phòng Luật sư Minh Tân thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kon Tum; trú tại: Số 157 PCT, thành phố KT, tỉnh Kon Tum. (có m t)

- Bị hại: Y Nh, sinh năm: 1986 (đã chết).

- Đại diện h p pháp cho bị hại:

Bà Y D, sinh năm: 1959 (mẹ đ ); trú tại: Thôn Vi Kl, xã P, huyện KP, tỉnh Kon Tum; (v ng m t)

- Người c qu n l i, ngh a v liên quan:

1. A D1, sinh ngày: 23/02/2008. (v ng m t)

2. A Th, sinh ngày: 23/6/2016. (v ng m t)

Cùng trú tại: Thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum.

Người giám hộ cho cháu A D1 và cháu A Th là:

- Bà Y D2, sinh năm: 1959 (bà ngoại); trú tại: Thôn Vi Kl, xã P, huyện KP, tỉnh Kon Tum; (v ng m t)

- Ông A N2, sinh năm: 1956 (ông nội); trú tại: Thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum; (v ng m t)

Người bảo vệ qu n và l i ích h p pháp cho cháu A D1 và cháu A Th là: Bà Nguyễn Thị Thúy H - Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tr giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kon Tum. (có m t)

Địa chỉ: Số 211 TRHĐ, thành phố KT, tỉnh Kon Tum.

- Người tham gia tố t ng khác:

+ Người phiên dịch: Ông ĐT, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: xã P, huyện KP, tỉnh Kon Tum. (v ng m t)

+ Người làm chứng

Chị Y B, sinh năm: 1990; trú tại: Thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum. (v ng m t)

Chị Y Đ, sinh năm: 1981; trú tại: Thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum. (v ng m t)

Chị Y Đ2, sinh năm: 1987; trú tại: Thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum. (v ng m t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Khoảng hơn 11h ngày 09/3/2021, Y Nh, sinh năm 1986 ngồi uống rư u cùng với Y N, A D3, Y B, A Kh, A X và Y Đ, đều trú cùng thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum, ở gốc cây mít phía sau nhà của Y Nh. Lúc này, A B sinh năm 1986 là chồng (không có đăng ký kết hôn) của Y Nh, cầm can đựng nước đến nói Y Nh đi xách nước về để n u cơm nhiều lần nhưng Y Nh không chịu đi mà vẫn tiếp tục ngồi uống rư u. A B tức giận, đi vào trong nhà ném can đựng nước và một cái cuốc ra ngoài sân, đồng thời A B đi ra trước hiên nhà sàn l y một khúc cây gậy gỗ hình trụ tròn, có đường kính chỗ rộng nh t 03cm, chiều dài 1,56 mét, một đầu đư c vót nhọn, trong đống củi đi đến đứng đối diện với Y Nh đang ngồi uống rư u và cầm cây gậy gỗ bằng hai tay giơ cao đánh mạnh một phát vào mạng sườn bên trái của Y Nh, làm Y Nh ngã xuống đ t và la lên “đau quá, thở không đư c” bằng tiếng dân tộc Mơ Nâm. Th y vậy, mọi người đứng dậy bỏ đi đến nhà Y N tiếp tục uống rư u. Th y Y Nh ngã xuống đ t, A B đã nhờ A Kh (cháu A B) cùng dìu Y Nh vào trong nhà A B, A Kh đã nhóm bếp lửa cho A B và Y Nh. A B l y cơm nguội cho Y Nh nhưng Y Nh không ăn. Lúc này, gi a A B và Y Nh tiếp tục cãi nhau, th y vậy A Kh bỏ đi đến nhà A X trú cùng thôn tiếp tục uống rư u. Trong lúc cãi nhau, A B tức giận đi đến đứng đối diện chỗ Y Nh đang ngồi dùng tay phải đ t dưới cằm, tay trái đ t trên đỉnh đầu của Y Nh và dùng lực mạnh b đầu Y Nh qua bên trái, rồi b ngư c lại qua bên phải, rồi A B bỏ đi uống rư u tại nhà Y N. Đến khoảng 13h00’ cùng ngày, chị Y Đ đi đến nhà của A B thì phát hiện Y Nh đã chết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 20 TT-TTPY ngày 12 03 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum:

Kết luận nguyên nhân chết của Y Nh do: Đa ch n thương.

Quá trình điều tra, bị cáo A B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 18 CT-VKS-P2 ngày 27 7 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum gi nguyên cáo trạng số 18 CT-VKS-P2 ngày 27 7 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo A B phạm tội “Giết người”

Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo A B t 15 đến 17 năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam là ngày 10/3/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Tách để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây gậy gỗ có chiều dài 1,56 m, đường kính 3,0 cm, cây gậy có dạng hình trụ tròn, một đầu đư c vót nhọn.

Về án phí: Buộc bị cáo A B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nh t với đại diện Viện kiểm sát về tội danh của bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là người phạm tội thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế; nhân thân tốt. Do đó, mức án của Viện kiểm sát đề nghị có phần hơi nghiêm kh c, mong HĐXX xem xét xử phạt bị cáo 12 năm tù để bị cáo th y đư c sự khoan hồng của pháp luật.

Ý kiến của người bảo vệ qu n và l i ích h p pháp cho cháu A D1 và cháu A Th: Về trách nhiệm dân sự hai cháu A D1 và A Th không có yêu cầu bồi thường và chỉ mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo trở về nuôi dưỡng hai cháu vì mẹ cháu đã chết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đư c thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nh ng người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo th y rằng:

Bị cáo A B và bị hại Y Nh, chung sống với nhau như v chồng không đăng ký kết hôn. Vào khoảng 11h00’ngày 09 03/2021, tại nhà của mình ở thôn KKL, xã H, huyện KP, tỉnh Kon Tum, trong khi Y Nh đang ngồi uống rư u cùng với mọi người ở phía sau nhà thì A B nói với Y Nh đi xách nước về để n u cơm. Y Nh không đi mà vẫn ngồi uống rư u. A B đã tức giận, đi vào trong nhà ném can đựng nước và một cái cuốc ra ngoài sân rồi A B đã l y một khúc cây gậy gỗ dài 1,56 m, có đường kính chỗ rộng nh t 03cm, cầm bằng hai tay đánh mạnh một phát vào mạng sườn bên trái của Y Nh, làm Y Nh ngã xuống đ t và la lên “đau quá, thở không đư c”. Sau khi, dìu Y Nh vào trong nhà, A B và Y Nh tiếp tục cãi nhau. A B đã dùng tay phải đ t dưới cằm, tay trái đ t trên đỉnh đầu của Y Nh và dùng lực mạnh b đầu Y Nh qua bên trái, rồi b ngư c lại qua bên phải. Hậu quả Y Nh tử vong do đa ch n thương.

Do đó, Cáo trạng số 18 CT-VKSKT-P2 ngày 27 7 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A B về tội“Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ hung hãn, m t nhân tính, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ gi a hai v chồng mà bị cáo đã nhẫn tâm dùng gậy đánh rồi b cổ v mình dẫn đến tử vong. Trong thời gian v a qua, tình trạng rư u chè bê tha, dẫn đến sảy ra nhiều vụ án chồng giết v , v giết chồng xảy ra trên địa bàn huyện Kon Plong gây nhiều dư luận b t bình ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, do vậy cần xử bị cáo với mức án nghiêm kh c để nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ng a chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Bị cáo A B có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng n ng nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà đại diện h p pháp của người bị hại và của người có quyền l i nghĩa vụ liên quan v ng m t. Do vậy, Hội đồng xét xử tách để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã thu gi : 01 (một) cây gậy gỗ có chiều dài 1,56 m, đường kính 3,0 cm, cây gậy có dạng hình trụ tròn, một đầu đư c vót nhọn.

Xét th y: Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đ c biệt khó khăn nên đư c miễn toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo A B phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo A B 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam là ngày 10/3/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tách để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

3. Về l vật ch ng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây gậy gỗ có chiều dài 1,56 m, đường kính 3,0 cm, cây gậy có dạng hình trụ tròn, một đầu đư c vót nhọn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngà 27/7/2021 giữa Cơ quan cảnh sát đi u tra Công an tỉnh Kon Tum với C c Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án; đại diện h p pháp cho bị hại và nh ng người có quyền l i nghĩa vụ liên quan v ng m t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án ho c ngày bản án đư c niêm yết.

Cỡ chữ