- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Văn T, Bùi Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HS-ST Ngày 27-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thạch.
2. Ông Bùi Quốc Thìn.
- Thư ký Phiên tòa: Ông Trương Quang Bình, Thư T a án nhân dân huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia Phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2021 tại trụ s T a án nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 73/2021/TLST-HS ngày 02/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HS ngày 15/7/2021 đối với:
1. Các bị cáo:
1.1. Trần Văn T, tên gọi hác: T; sinh ngày 26/11/1989 tại t nh Quảng Ng i; nơi cư trú: Thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con bà Trần Thị H (chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i xử phạt 24 tháng tù về tội G y rối trật tự công cộng theo Bản án số 20/2008/HSST, ngày 13/5/2008 và xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, theo Bản án số 30/2011/HSST, ngày 22/8/2011; bị tạm giữ, tạm giam ể từ ngày 18/3/2021; có mặt tại Pên tòa.
1.2. Bùi Thanh P, sinh ngày 26/5/1993 tại t nh Quảng Ng i; nơi cư trú: Thôn M, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; quốc tịch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Ngư nghiệp; trình độ học vấn: 8/12; con ông Bùi H (chết), bà Trần Thị L; có vợ là Nguyễn Thị S, có 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ể từ ngày 18/3/2021; có mặt tại Phiên tòa.
2. Bị hại:
2.1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ H (sau đ y viết tắt là Công ty H); trụ s : Thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Minh T, chức vụ: Trư ng ph ng Tổ chức - Hành chính của Công ty H (theo văn bản ủy quyền số 05/21-UQHG, ngày 01/5/2021); có mặt tại Phiên tòa.
2.2. Ông Lê T(sau đ y viết tắt là ông T), sinh năm 1979; cư trú tại: Thôn Đ, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; vắng mặt tại Phiên tòa.
2.3. Ông Dương Đình Thái (sau đ y viết tắt là ông Thái), sinh năm 1986; cư trú tại: Thôn Đ, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; vắng mặt tại Phiên tòa.
2.4. Ông Nguyễn Hồng V(sau đ y viết tắt là ông V n), sinh năm 1975; cư trú tại: Thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; vắng mặt tại Phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị Thu S(sau đ y viết tắt là bà S), sinh năm 1972; cư trú tại: Thôn H, x T, huyện T, t nh Quảng Nam; vắng mặt tại Phiên tòa.
3.2. Ông Nguyễn Tài H(sau đ y viết tắt là ông H), sinh năm 1970; cư trú tại: Thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; vắng mặt tại Phiên tòa.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1967; cư trú tại: thôn Q, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; có mặt tại Phiên tòa.
4.2. Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1979; cư trú tại: xóm Đ, Thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i; có mặt tại Phiên tòa.
4.3. Ông Hồng Vĩnh M, sinh năm 1972; cư trú tại: Tổ d n phố X, thị trấn C, huyện T, t nh Quảng Ng i; có mặt tại Phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Văn T (sau đ y viết tắt là T) rủ bạn của mình là Bùi Thanh P (sau đ y viết tắt là P) đi trộm cắp tài sản thì P đồng ý. Trong tháng 3/2021, T và P đ thực hiện các hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người hác trên địa bàn huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i, cụ thể:
1. Trước ngày 15/3/2021 vài ngày ( hông xác định được thời gian cụ thể), T điều hiển xe mô-tô nh n hiệu Honda Dream ( hông xác định được biển iểm soát) éo theo cộ sắt ch P đến kho bãi của Công ty H (thuộc địa phận thôn T, xã B) lén lút khiêng 01 (một) hung sắt bỏ lên cộ sắt rồi vận chuyển đến bán cho tiệm phế liệu của bà S (thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện N, t nh Quảng Nam) với giá 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Bình Sơn ết luận hung sắt nêu trên trị giá 591.500 đồng (năm trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
2. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/3/2021, khi T điều hiển xe mô-tô nêu trên ch theo P đi ngang qua quán nhậu Sông Trà xã B (do ông V làm chủ quán) phát hiện trong quán có xe mô-tô nh n hiệu Honda Dream biển iểm soát 76M4-062X (xe của ông V) nên T dừng xe và nói với P lại cảnh giới cho T đến lấy trộm xe thì P đồng , T đi bộ đến dắt xe 76M4-062X quay lại chỗ P, sau đó T dùng các dụng cụ ( ìm, cờ lê, tuốc vít) tháo gỡ phụ tùng xe của xe 76M4-062X (ba-ga, bửng xe màu trắng và gương chiếu hậu) bỏ lại, bứt d y chìa hóa để h i động, điều hiển xe 76M4-062X và cùng với P rời hỏi hiện trường; trên đường đi đến đoạn trước cổng Khu liên hợp Thép H a Phát thì T gỡ bỏ biển iểm soát xe 76M4-062X và vứt bỏ biển iểm soát vào thùng rác.
Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn ết luận giá trị xe 76M4-062X nêu trên là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
3. Khoảng 23 giờ 58 phút, ngày 17/3/2021, T điều hiển xe mô-tô 76M4-062X nêu trên (đ tháo gỡ biển iểm soát) éo theo cộ sắt ch P đi trên tuyến đường Võ Văn Kiệt thì phát hiện trong tiệm sửa xe (gara) L (thuộc địa phận thôn Đ, xã B và do ông T làm chủ) có 01 hung sắt là nắp cabin xe công nông (từ địa phương thường dùng là xe cọc cạch) nên T, P cùng đi đến, khiêng nắp cabin này bỏ lên cộ sắt ch đi trên đường Võ Văn Kiệt nhằm tiếp tục tìm iếm tài sản để trộm cắp.
Đến khoảng 00 giờ 03 phút ngày 18/3/2021, T và P đi đến trước quán nhậu H (thuộc địa phận thôn Đ, x B và do ông Th làm chủ) thì phát hiện một số thanh sắt (sắt phế liệu) nên T đ dừng xe để P đi đến lấy các thanh sắt này bỏ lên xe cộ, gồm: 01 (một) ống sắt rỗng, 01 (một) thanh sắt hộp bị g mục, 01 (một) thanh sắt hộp loại (4x4)cm, 02 (hai) thanh sắt hộp loại (4x4)cm.
Sau đó, các bị cáo ch nắp cabin và thanh sắt trộm cắp được của các ông T, T đem bán cho tiệm thu mua phế liệu của ông H (thuộc thôn T, xã B) với giá 360.000 đồng (ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn ết luận giá trị nắp cabin nêu trên là 295.750 đồng (hai trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm năm mươi đồng) và các thanh sắt nêu trên là 92.300 đồng (chín mươi hai nghìn ba trăm đồng.
4. Khoảng 02 giờ ngày 18/3/2021, T và P tiếp tục đến ho b i của Công ty H để trộm các hung sắt, T và P đưa cộ sắt vào đống hung sắt rồi cùng nhau hiêng, chuyển 01 (một) hung sắt lên cộ sắt và vận chuyển đến tiệm thu mua phế liệu của bà S để bán nhưng do hung sắt có hối lượng lớn nên T, P để lại hung sắt tại đ y và nói với bà S để trời sáng rồi cắt các hung sắt ra cân, bán cho bà S. Sau đó, T, P quay tr lại ho b i của Công ty H để trộm cắp tài sản; với phương thức, thủ đoạn tương tự như trên, T, P đ thực hiện thêm 02 lần trộm cắp tài sản, mỗi lần 01 hung sắt của Công ty H và vận chuyển đến để cổng tiệm thu mua phế liệu của bà S để chờ đến sáng rồi cân, bán cho bà S. Đến hoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/3/2021 thì T, P tr lại tiệm của bà S nhưng do thấy có nhiều người đó nên các bị cáo quay về huyện Bình Sơn.
Khoảng 11 giờ 45 ngày 18/3/2021, T điều hiển xe Honda Dream ch P éo theo cộ sắt đến kho bãi Công ty H để tiếp tục trộm cắp các hung sắt và khi đang lén lút hiêng 01 (một) hung sắt lên cộ sắt thì bị anh Lê Văn N (là Công an viên xã B) trên đường đi công tác phát hiện, theo dõi. T điều hiển xe ch P éo cộ sắt vận chuyển hung sắt lấy trộm được lần thứ tư này rời hỏi ho bãi Công ty H đi về phía x B thì anh N truy đuổi theo, đồng thời liên hệ Công an các xã B, T hỗ trợ. Khi các bị cáo ch hung sắt đến tiệm thu mua phế liệu của ông H thì bị lực lượng công an đuổi ịp, bắt quả tang.
Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn ết luận trị giá 04 khung sắt mà các bị cáo chiếm đoạt của Công ty H trong ngày 17 và ngày 18/3/2021 trị giá 4.108.000 đồng (bốn triệu một trăm lẻ tám nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 02/7/2021 của Viện iểm sát nh n dân huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i truy tố các bị cáo T, P về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đ y viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại Phiên t a, đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo T, P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51, điểm g hoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù, xử phạt P từ 12 đến 18 tháng tù; về d n sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì hác về d n sự nên không xem xét; về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cộ sắt có gắn 02 bánh xe và 01 (một) cờ lê, 01 (một) ìm bấm, 01 (một) tuốc vít; buộc các bị cáo có nghĩa vụ giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.010.000 đồng để tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
Qua tranh tụng tại Phiên tòa, các bị cáo T, P thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, hông oan nhưng cho rằng mức án mà đại diện Viện iểm sát đề nghị là nặng, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hư ng mức án thấp nhất;
Tranh luận với iến của các bị cáo thì đại diện Viện iểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt đề nghị vì cho rằng đ đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, trên cơ s đó đ đề nghị xét xử mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại Phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo hông có iến hiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại Phiên tòa, các bị cáo T, P khai nhận hành vi của mình như mô tả trong cáo trạng truy tố. Lời hai của các bị cáo T, P phù hợp với lời hai của bị hại, của những người tham gia tố tụng hác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ s xác định:
Các bị cáo T, P là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; liên tục, ế tiếp thời gian từ ngày 17/3/2021 đến ngày 18/3/2021, các bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người hác trị giá 4.496.050 đồng (bốn triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn năm mươi đồng), trong đó chiếm đoạt tài sản của các ông T, Thái trị giá là 388.050 đồng và tài sản của Công ty H trị giá là 4.108.000 đồng. Ngoài ra, ngày 15/3/2021, các bị cáo c n lén lút chiếm đoạt xe mô-tô Honda Dream biển iểm soát 76M4-062X của ông V trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Hành vi nêu trên của T và P đ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ngoài hành vi phạm tội đ nêu tại mục [2] nêu trên thì các bị cáo T, P còn lén lút chiếm đoạt của Công ty H 01 (một) hung sắt trị giá 591.500 đồng (năm trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm đồng) vào thời điểm trước ngày 15/3/2021 ( hông xác định được thời gian cụ thể), tuy nhiên do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi chiếm đoạt hung sắt này.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Các bị cáo T, P thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh hó hăn, riêng bị cáo P có ông nội là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo T, P phạm tội 02 lần tr lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g hoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo T có nh n th n xấu, đ bị T a án nh n d n huyện Bình Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội g y rối trật tự công cộng theo Bản án số 20/2008/HSST, ngày 13/5/2008 và xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, theo Bản án số 30/2011/HSST, ngày 22/8/2011 nhưng đến nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật và hông có hả năng tự cải tạo bản th n.
Hành vi phạm tội của các bị cáo T, P thuộc trường hợp đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó: Bị cáo T có vai tr tích cực nhất, là người h i xướng, rủ rê bị cáo P phạm tội và cùng với bị cáo P trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản nên hành vi phạm tội của T có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn so với P, vì vậy cần có sự ph n hóa trách nhiệm hình sự hi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Trên cơ s đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nh n th n của bị cáo như đ nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù tại cơ s giam giữ trong thời hạn nhất định để để cải tạo, giáo dục bị cáo tr thành người có ích cho x hội, có thức tu n thủ pháp luật, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người hác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh, ph ng chống tội phạm.
Về việc trách nhiệm hình sự đối với bà S và ông H:
Trong vụ án này, mặc dù có mua tài sản của T, P như đ nêu trên nhưng bà S, ông H đều hông biết đ y là những tài sản do T, P trộm cắp mà có nên hông có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà S, ông H về hành vi tiêu thụ tài sản do người hác phạm tội mà có.
Về vật chứng:
Cơ quan điều tra thu hồi các tài sản bị các bị cáo T, P chiếm đoạt trong vụ án và đ trả lại cho các chủ s hữu, cụ thể: Trả lại 05 (năm) khung sắt cho Công ty H; trả lại xe mô-tô nh n hiệu Honda Dream (số hung 248430, số máy 0248445) cho ông V; trả lại 01 nắp cabin xe công nông cho ông T; trả lại các thanh sắt phế liệu cho Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
01 (một) cộ sắt có gắn 02 bánh xe, 01 (một) cờ lê, 01 (một) kìm bấm và 01 (một) tuốc vít đều là tài sản của T, được sử dụng làm phương tiện thực hiện các vụ trộm cắp tài sản nêu trên; hiện nay các vật chứng này không c n giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo bán các tài sản trộm cắp cho ông H với số tiền là 360.000 đồng (ba trăm sáu mươi ngàn đồng), bán cho bà S với số tiền 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và đ sử dụng tiêu xài hết số tiền này. Đ y là số tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo có nghĩa vụ giao nộp để tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
Về d n sự:
Bà S, ông H hông yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền mà bà S, ông H mua các tài sản trộm cắp; các bị hại cũng đ nhận lại tài sản như đ nêu và không có yêu cầu gì hác về d n sự nên Hội đồng xét xử hông xem xét, giải quyết vấn đề d n sự trong vụ án này.
Đề nghị của đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và đề nghị về d n sự, xử l vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo T, P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Vì các lẽ trên,
QUY T ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Bùi Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51, điểm g hoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
2.1. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2021.
2.2. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh P 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2021.
3. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
3.1. Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 (một) cộ sắt có gắn 02 bánh xe và 01 (một) cờ lê, 01 (một) ìm bấm, 01 (một) tuốc vít (chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/7/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn và Chi cục Thi hành án d n sự huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i).
3.2. Buộc các bị cáo Trần Văn T và Bùi Thanh P có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.010.000 đồng (một triệu hông trăm mười nghìn đồng) để sung vào ng n sách Nhà nước.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án,
Buộc các bị cáo Trần Văn T, Bùi Thanh P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, bị hại có mặt tại Phiên tòa có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày ể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại Phiên tòa có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày ể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND t nh Quảng Ng i; - VKSND t nh Quảng Ng i; - S Tư pháp t nh Quảng Ng i; - VKSND huyện Bình Sơn; - Cơ quan CSĐT, Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ và Nhà Tạm giữ, thuộc Công an huyện Bình Sơn; - Chi cục THADS huyện Bình Sơn; - UBND x Bình Thuận (thay thông báo); - UBND xã Bình Chánh (thay thông báo); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Đô |