- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị M ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Tuyết M ly hôn anh Lê Công H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21-12-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Trọng.
2. Ông Cao Văn Đại.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2021/TLST-HNGĐ ngày 05/11/2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/12/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1998.
HKTT: Thôn V, C, T, Hải Dương.
Địa chỉ hiện ở: Khu B, phường C1, thị xã Y, Quảng Ninh.
2. Bị đơn: Anh Lê Công H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn V, xã C, T, Hải Dương.
3. Người làm chứng:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn V, C, T, Hải Dương.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; Địa chỉ hiện ở: Khu B, phường C1, thị xã Y, Quảng Ninh.
(Tại phiên tòa, chị M, anh H và những người làm chứng đều vắng mặt và trước đó đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Chị M và anh H kết hôn vào ngày 18/2/2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019, đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau về tính cách nên thường xuyên xô xát, cãi chửi nhau. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không được cải thiện. Vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị xác định không còn tình cảm với anh H nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Lê Dương Ngọc N, sinh ngày 27/9/2020. Hiện nay cháu N đang ở với chị. Khi ly hôn do con còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nên chị xin nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị làm nhân viên hành chính tại công ty, thu nhập trung bình một tháng là 9 triệu đồng.
Về tài sản, công sức, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, TAND huyện Thanh Hà đã nhiều lần triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc.
* Lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị L, bà Lê Thị H1, cũng như kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị M, anh H đã nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên xô xát, cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều tháng nay. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không được cải thiện. Ngoài ra, bà L là mẹ đẻ chị M còn đề nghị Tòa án giao con cho chị M nuôi dưỡng, gia đình bà sẽ hỗ trợ chị M chăm sóc cháu N tốt nhất. Bà H1 (mẹ đẻ anh H) cũng ý kiến gia đình bà nhất trí để chị M nuôi con chung vì cháu N còn quá nhỏ.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, 229, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự: Về quan hệ hôn nhân, xử chị M và anh H ly hôn. Về con chung: Giao con chung là Lê Dương Ngọc N, sinh ngày 27/9/2020 cho chị M nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị M, anh H có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần, nhưng anh H không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều đó thể hiện sự không thiện chí đoàn tụ của bị đơn. Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị M, anh H đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không được cải thiện. Thực tế, vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị M xác định không còn tình cảm gì với anh H và xin ly hôn với anh H. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử chị M ly hôn với anh H là phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Vợ chồng chị M, anh H có 01 con chung là Lê Dương Ngọc N, sinh ngày 27/9/2020. Chị M xin nuôi con, xét chị M có việc làm và thu nhập ổn định, ngoài ra cháu N hiện dưới 36 tháng tuổi nên về nguyên tắc được giao cho mẹ nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy cần giao con cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của con chung. Chị M tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản, công sức, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Tuyết M ly hôn anh Lê Công H.
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Dương Ngọc N, sinh ngày 27/9/2020 cho chị Nguyễn Thị Tuyết M nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận tự nguyện của chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0003292 ngày 05/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; chị M đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Các đương sự; - UBND xã C, Thanh Hà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |