vanban.org

Bản án 42/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Mộng T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hùng M. 2. Về con chung: Bà Huỳnh Mộng T xác định trong thời gian chung sống, bà T và ông Nguyễn Hùng M có 01 người con chung là Nguyễn Hùng B, sinh ngày 26/10/1995 hiện nay đã thành niên và bà T không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Mộng Thúy - Nguyễn Hùng Mộng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Mộng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HNGĐ - ST.
Ngày: 31 - 12 - 2021.
"V/v ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trà Minh Châu.

Bà Trần Thúy Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2021/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Mộng T, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng M, sinh năm 1973; địa chỉ HKTT: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; chổ ở hiện nay: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 26/10/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Mộng T trình bày: Bà Huỳnh Mộng T và ông Nguyễn Hùng M tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dânxã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 181, ngày 30/8/2011. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 02 năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, từ đó cuộc sống không còn hạnh phúc và sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay, sau khi sống ly thân thì bà T và ông M có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian chung sống, bà T và ông M có 01 người con chung là Nguyễn Hùng B, sinh ngày 26/10/1995 hiện nay đã thành niên; về tài sản chung và nợ chung không có.

Bà Huỳnh Mộng T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hùng M; về con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà T không yêu cầu gì.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Hùng M: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông M, nhưng ông M không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông M 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông M vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Nguyễn Hùng M đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Hùng M chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng ông Nguyễn Hùng M và bà Huỳnh Mộng T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Mộng T; về con chung đã thành niên bà T và ông M không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 26/10/2021, nguyên đơn bà Huỳnh Mộng T trình bày: Bà và ông Nguyễn Hùng M kết hôn vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 30/8/2011. Bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Hùng M và con chung đã thành niên nên không yêu cầu gì, về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hùng M hiện đang cư trú tại ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Hùng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông M.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Huỳnh Mộng T và ông Nguyễn Hùng M tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 181, ngày 30/8/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông M là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau thời gian chung sống hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2021, ông bà phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, bất hòa. Ông bà vẫn không hàn gắn được tình cảm nên đã sống ly thân với nhau tháng 02 năm 2021 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông M và bà T có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông M và bà T đoàn tụ với nhau nhưng ông M vẫn vắng mặt và bà T vẫn kiên quyết ly hôn với ông M vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông M và bà T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông M.

Về con chung: Bà Huỳnh Mộng T xác định trong thời gian chung sống, bà T và ông Nguyễn Hùng M có 01 người con chung là Nguyễn Hùng B, sinh ngày 26/10/1995 hiện nay đã thành niên và bà T không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Mộng T xác định trong thời gian chung sống bà T và ông Nguyễn Hùng M không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Huỳnh Mộng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hùng M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Mộng T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hùng M.

1.2. Về con chung: Bà Huỳnh Mộng T xác định trong thời gian chung sống, bà T và ông Nguyễn Hùng M có 01 người con chung là Nguyễn Hùng B, sinh ngày 26/10/1995 hiện nay đã thành niên và bà T không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Mộng T xác định trong thời gian chung sống bà T và ông Nguyễn Hùng M không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003223 ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Huỳnh Mộng T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hùng M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ