vanban.org

Bản án 42/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu khởi kiện của Chị Trần Thị Nh về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lương Phúc Lan Hương.

Sau khi ly h«n, ngêi kh«ng trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn nghÜa vô th¨m nom con mµ kh«ng ai ®îc c¶n trë. Cha mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh hëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc vµ nu«i dìng, gi¸o dôc con th× ngêi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Tßa ¸n h¹… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 42"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu khởi kiện của Chị Trần Thị Nh về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lương Phúc Lan Hương.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13- 9-2021
V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Văn Phiếu

2. Ông Bùi Khắc Thái.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đào Sỹ Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 124/2021/TLST- HNG§ ngµy 22 tháng 6 năm 2021 về việc :“Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐ-HNGĐ ngày 01/9/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nh, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn Tr, xã Ngh, huyện K, tỉnh Hưng Yên

- Bị đơn: Anh Lương Quốc V, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 6 năm 2021 và bản tự khai, nguyên đơn Chị Trần Thị Nh trình bày: chị và Anh Lương Quốc V có 02 con chung là các cháu Lương Phúc Lan H sinh ngày 15/6/2013 và cháu Lương Phúc L sinh ngày 04/01/2019. Do mâu thuẫn anh chị đã thỏa thuận thuận tình ly hôn, tại Quyết định công nhận thuận tình số 55/2019/QĐST- HNGĐ ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên đã quyết định chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi cháu Lương Phúc L sinh ngày 04/01/2019 còn anh Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi cháu Lương Phúc Lan H sinh ngày 15/6/2013. Tuy nhiên sau đó anh Vđã không trực tiếp chăm sóc cháu H, cháu đến tuổi đi học và là con gái phải thường xuyên ở nhà với bà nội là mẹ anh V, bản thân anh Vđi lái xe đường dài không quan tâm gì đến cháu. Hoàn cảnh mẹ anh Vcũng thuộc hộ nghèo rất khó khăn. Hiện nay chị buôn bán kinh doanh, có nhà riêng, đủ điều kiện để nuôi các cháu. Khi chị về thăm cháu H thì anh Vcũng không có nhà, chị đã xin phép mẹ anh Vđón cháu về với chị từ tháng 6/2021 cho đến nay. Tuy nhiên anh Vcũng không hề hỏi han thăm nom gì. Nay chị đề nghị Tòa án huyện N thay đổi cho chị được trực tiếp là người nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Lương Phúc Lan Hcho đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị không đề nghị anh Vphải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Đối với bị đơn Anh Lƣơng Quốc V: Mặc dù đã biết việc Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý giải quyết vụ án chị Nhxin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nhưng anh Vvẫn không gửi văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án đến Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Theo biên bản xác minh của Tòa án với Ủy ban nhân dân xã Ph thì hiện nay anh Vvẫn có hộ khẩu và đang sinh sống cùng với gia đình tại Thôn Đ, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo và giấy triệu tập của Tòa án cho bà Vũ Thị Llà mẹ đẻ anh Vương, bà Liên đã nhận và cam đoan giao cho anh Vương.

Tại bản tự khai của bà Vũ Thị Lngày 28/7/2021, bà Liên xác nhận: anh Vthường xuyên không có nhà do đi làm ăn xa, anh Vchỉ gửi tiền về cho bà nuôi cháu H.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/6/2021, cháu Lương Phúc Lan Htrình bày: Cháu đang ở với bà nội, vì bố cháu là lái xe nên thường xuyên không có nhà. Bà nội cháu đã già nên không thể dậy cháu học bài được. Cháu phài tự đi học, tự chăm sóc cho cá nhân cháu. Cháu muốn được mẹ cháu đón cháu về để cháu được ở với em cháu và được mẹ chăm sóc dậy bảo cháu học hành.

Theo biên bản làm việc ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện N với UBND xã Ph, huyện N thì Ủy ban xác định hiện nay cháu Lương Phúc Lan Hđang sinh sống cùng bà Vũ Thị Llà bà nội cháu là đúng, anh Vlà lái xe đường dài nên thường xuyên không có nhà.

Do quá trình giải quyết anh Vkhông đến Tòa án để tiến hành phiên hòa giải vì vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như quá trình giải quyết vụ án.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

* Về thủ tục tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, khoản 3 Điều 28, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị Nh. Giao cháu Lương Phúc Lan Hsinh ngày 15/6/2012, hiện đang ở với anh Vương, cho chị Nhtrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. anh Vkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Nh nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Tại Quyết định công nhận thuận tình số 55/2019/QĐST- HNGĐ ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên đã quyết định Chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi cháu Lương Phúc L sinh ngày 04/01/2019, Anh Lương Quốc V trực tiếp nuôi cháu Lương Phúc Lan Hsinh ngày 15/6/2013. Các bên đã thực hiện quyết định này. Tuy nhiên hiện nay chị Nhcho rẳng anh Vđã không đảm bảo điều kiện để nuôi dậy cháu H, vì hiện nay cháu H đã đến tuổi đi học nhưng anh Vlà lái xe đường dài thường xuyên không có nhà, để cháu H cho bà Vũ Thị Llà bà nội cháu chăm sóc. Bà Liên năm nay 78 tuổi, gia đình lại hoàn cảnh, anh Vkhông quan tâm chăm sóc cháu H, vì vậy ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu. Vì vậy chị đề nghị Tòa án huyện N giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu H.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc anh Vkhông trực tiếp thường xuyên nuôi dưỡng và chăm sóc cháu H là có thật, điều này được chứng minh qua lời khai của bà Vũ Thị Lvà của cháu H. Qua xác minh tại ủy ban nơi cư trú của anh Vthì ủy ban xác định anh Vlà lái xe đường dài thường xuyên không có mặt tại nhà. Mặt khác cháu H hiện nay đang học tiểu học, cháu lại là con gái, việc không có người quan tâm chăm sóc cháu về vật chất cũng như đời sống cá nhân tinh thần rất ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý của cháu. chị Nhchứng minh được chị có thu nhập, có nơi ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi dậy các con. Vì vậy việc giao cháu H cho chị Nhtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là có căn cứ đảm bảo quyền lợi ích cho cháu.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 84 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của Chị Trần Thị Nh.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nhkhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Nh phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu khởi kiện của Chị Trần Thị Nh về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lương Phúc Lan Hương. Giao cháu Lương Phúc Lan Hsinh ngày 15/6/2013, hiện đang ở với Anh Lương Quốc V, cho Chị Trần Thị Nh trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. anh Vkhông phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Nhẹ.

Sau khi ly h«n, ngêi kh«ng trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn nghÜa vô th¨m nom con mµ kh«ng ai ®îc c¶n trë. Cha mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh hëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc vµ nu«i dìng, gi¸o dôc con th× ngêi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Tßa ¸n h¹n chÕ quyÒn th¨m nom con cña ngêi ®ã.

2. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Nh phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Nhđã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí ly hôn số AA/2021/0003345 ngày 22/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

3. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Nh và Anh Lương Quốc V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ