- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S - Bùi Khắc P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 42/2021/DS-ST Ngày: 05 – 4 – 2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông La Văn Việt
Bà Trương Thị Kim Cương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Trong các ngày 02 và 05 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 753/2020/TLST – DS ngày 08 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST – DS ngày 01 tháng 3 năm 2021 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2021/QĐST – DS ngày 16 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: Lầu 8, số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường T, Quận B, Thành phố H.
Người đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Đức T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Lê Văn H, chức vụ: Phó giám đốc chi nhánh kiêm trưởng phòng giao dịch (Theo Văn bản ủy quyền số 4073/2019/GUQ-PL ngày 16/12/2019).
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông H: Ông Huỳnh Thanh M, chức vụ: Phó phòng giao dịch (Theo Văn bản ủy quyền số 49/2020/GUQ-PGD ĐH ngày 24/12/2020).
Bị đơn: Ông Bùi Khắc P, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp BH, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Ông M có mặt, ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S (viết tắt là Ngân hàng) do ông Huỳnh Thanh M đại diện trình bày như sau: Vào ngày 24/12/2016, ông Bùi Khắc P có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S) với Ngân hàng TMCP S. Căn cứ vào thu nhập của ông P, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông P như sau: Hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm cấp thẻ là 1,25% tháng, lãi suất được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Cụ thể như sau:
Loại thẻ
Số thẻ
Hạn mức
Ngày ký
Lãi suất áp dụng
hợp đồng
Thẻ tín dụng
356480 - 0279 15.000.000đ
24/12/2016
1.25%/tháng
quốc tế JCB
(15%/năm)
Motor Card
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 15.760.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ, ông P có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là 11.500.001 đồng. Sau đó, ông P không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào cho Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không thiện chí trả nợ. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là 6.495.565 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn. Tạm tính đến ngày 05/4/2021 ông P còn nợ 13.867.939 đồng, cụ thể sau:
Loại thẻ
Số thẻ
Nợ gốc
Lãi quá hạn
Lãi suất áp
dụng Thẻ tín dụng 356480 - 0279 6.495.565đ
7.372.374đ
15% x150% quốc tế JCB Motor Card
Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Bùi Khắc P phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/4/2021 là 13.867.939 đồng, trong đó: nợ gốc là 6.495.565 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.372.374 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/4/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng
Bị đơn: Ông Bùi Khắc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng ông P vẫn không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến trình bày.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên Tòa và kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Bùi Khắc P trả số tiền đã vay. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng; Ông Bùi Khắc P hiện đang cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo đơn khởi kiện và theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.
Về thủ tục tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Bùi Khắc P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa không xuất trình, giao nộp bổ sung thêm chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được công khai tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lời khai nhận của các đương sự tại phiên tòa để xét xử vụ án.
Về nội dung yêu cầu: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 24/12/2016, ông Bùi Khắc P có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông P với hạn mức sử dụng là 15.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm cấp thẻ là 1,25% tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 15.760.000 đồng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ, ông P có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là 11.500.001 đồng. Sau đó, ông P không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào cho Ngân hàng. Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Bùi Khắc P phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền là 13.867.939 đồng, trong đó: nợ gốc là 6.495.565 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 05/4/2021 là 7.372.374 đồng.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ số tiền hiện còn nợ và số tiền mà bị đơn đã thanh toán, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Bùi Khắc P đến Tòa để trình bày ý kiến của mình nhưng ông P vẫn vắng mặt xem như đã tự từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước Tòa nên phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ. Do đó, việc Ngân hàng tự nguyện khai báo về số tiền mà ông P đã thanh toán cho Ngân hàng cũng như số tiền hiện còn nợ là có thiện chí, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về tiền lãi suất: Xét thấy, tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Bùi Khắc P ký ngày 24/12/2016, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, thì giữa ông Bùi Khắc P và Ngân hàng thỏa thuận lãi suất là 1,25%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại. Căn cứ theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì việc thỏa thuận này phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về thời hạn thanh toán: Do ông Bùi Khắc P vi phạm thời hạn trả nợ theo như thỏa thuận nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu ông Bùi Khắc P phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Bùi Khắc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán là 13.867.939 đồng. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
2. Buộc ông Bùi Khắc P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền còn nợ là 13.867.939 đồng (Mười ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm ba mươi chín đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 6.495.565 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 05/4/2021 là 7.372.374 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Khắc P phải chịu 693.396 đồng (Sáu trăm chín mươi ba nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 335.000đồng (Ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tại biên lai số 0007025 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Quốc |