- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HSST Ngày: 06/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông C Đình Ngữ và ông Trần Tấn Quốc.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Hương Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa:
Ông Phan Anh Giáp- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, số 06 đường Đặng Tràm, thị xã Hương Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020, đối với:
Bị cáo Võ Văn L, sinh ngày 12/10/1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT: Thôn BL, xã TB, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn Kim Sơn, xã TB, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Võ Văn L1, sinh năm 1954 và bà Lê Thị P, sinh năm 1955; vợ con: chưa có;
Quá trình nhân thân: Năm 2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 08/2016/HSST); Bị cáo đã chấp hành xong bản án này và đã được xóa án tích. tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/03/2020 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn LT, xã PM, huyện PV, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Ngọc C, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn BL, xã TB, thị xã H T, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Đức C1, sinh năm 2000; địa chỉ: xã LB, huyện PL, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên hệ: Nhà nghỉ TH, Số 209 đường NB, phường AC TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
2. Cháu Võ Thị BH, sinh năm 2005; Người giám hộ: Chị Văn Thị Minh H, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn Cư Chánh 1, xã TB, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
3. Chị Hồ Thị TH1, sinh năm 2003; người giám hộ: Ông Hồ Hải Duy, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 2, khu vực 1, phường TX, thành phố H. Vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ 1, phường TX, thành phố H; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 ngày 21/02/2020, Võ Văn L đi bộ đến chợ T, thuộc Thôn BL, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm mục đích để lấy trộm xe mô tô. Tại đây, L nhìn thấy có nhiều xe mô tô không có ai trông giữ nên L dùng chìa khóa mang theo để thử mở khóa xe mô tô Sirius, mang biển kiểm soát: 75H1-307.56 của anh Võ Văn H thì thấy mở được. Sau khi mở khóa xe, L dắt xe đi ra khỏi khu vực để xe, rồi lên xe nổ máy, chạy xe về nhà nghỉ TH; địa chỉ: Số 209 đường NB, phường AC TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế để gửi xe. Khi đến nhà nghỉ TH, L gặp anh Nguyễn Đức C1 là quản lý nhà nghỉ, L nói với anh C1 cho L gửi nhờ xe mô tô này ở nhà nghỉ thì được anh C1 đồng ý. Sau đó, L đi bộ về nhà ngủ.
Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/3/2020, L gặp chị Võ Thị BH và chị Hồ Thị TH1, L nhờ chị Hân đi cùng với Luật đến nhà nghỉ TH để lấy xe mô tô. Chị H không đi mà nhờ chị Huyền đi cùng với L. L chạy xe mô tô biển kiểm soát 74F8-3919 (xe của anh Nguyễn Văn Túc) chở chị Huyền đi. Khi đến nhà nghỉ, L vào gặp anh Nguyễn Đức C1 để lấy xe mô tô Sirius, mang biển kiểm soát: 75H1-307.56. Sau đó, Lchạy xe mô tô mang biển kiểm soát: 75H1-307.56, chị H chạy xe mô tô biển kiểm soát 74F8-3919 đi về thì bị Công an thị xã Hương Thủy phát hiện và triệu tập làm việc, tại Cơ quan điều tra, L đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, mang biển kiểm soát: 75H1-307.56; 01 (một) chìa khóa làm bằng kim loại, màu vàng -xám -trắng (đã cũ). Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu, chìa khóa hiện đang được tạm giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 20 ngày 08/3/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Hương Thủy, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, mang biển kiểm soát: 75H1-307.56, trị giá: 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Văn L đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 41/CT- VKS-HTh ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Võ Văn L về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội: Trộm cắp tài sản; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Văn L từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa làm bằng kim loại, màu vàng -xám -trắng (đã cũ). Về trách nhiệm dân sự, người bị hại anh Võ Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị hại: Anh Võ Văn H trình bày đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì về tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật.
. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy thu thập trong hồ sơ đều có giá trị pháp lý.
. Qua trình điều tra truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
. Có đủ cơ sở để kết luận: Do cần có tiền tiêu xài cá nhân, nên vào khoảng 22 giờ 00 ngày 21/02/2020, tại chợ T, thuộc Thôn BL, xã TB, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo Võ Văn L đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius, mang biển kiểm soát: 75H1-307.56 của anh Võ Văn H có giá trị 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo Võ Văn L về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Võ Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng vì lười lao động, muốn hưởng thụ thành quả lao động trên công sức của người khác nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Văn L không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc khác, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, nghĩ cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) chìa khóa làm bằng kim loại, màu vàng -xám -trắng (đã cũ) và đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 27/5/2020. Xét thấy đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Võ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn L 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 13/03/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa làm bằng kim loại, màu vàng -xám - trắng (đã cũ) có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Thủy và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 1, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND thị xã Hương Thủy; - Công an thị xã Hương Thủy; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh; - Bị cáo; - Bị hại; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy; - Lưu HSVA, VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Dũng Nguyễn Ngọc Dũng |