- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Huy C phạm tội cướp tài sản (phiên tòa rút kinh nghiệm) - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày: 30 - 7 -2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn và ông Nguyễn Văn Đang.
- Thư ký Tòa án: Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Huy C – Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1979 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 138, đường X, phường Ng, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 3, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình H và bà Thân Thị O; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 con;
+ Tiền sự: Không;
+ Tiền án: Bản án số 14 ngày 10/2/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2016; chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và số tiền truy thu 2.700.000 đồng.
+ Nhân thân:
- Bản án số 131 ngày 28/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47 ngày 01/6/2009 của Công an phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt 300.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Ngày 25/12/2010, Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05 đối với Vũ Huy C với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Quyết định số 1070 ngày 16/3/2011 của UBND thành phố B, tỉnh Bắc Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 12 tháng;
- Quyết định số 954 ngày 08/5/2002 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào Trung tâm chữa bệnh giáo dục hướng thiện với thời hạn 01 năm;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/3/2020 đến ngày 10/3/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo Quyết định tạm giam số 19/2020/HSST-QĐTG ngày 03/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (Có mặt).
+ Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hạ V – sinh năm 1982; vắng mặt
Địa chỉ: 42/1A, đường số 19, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Công Đ – Sinh năm 1994; vắng mặt Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;
- Chị Nguyễn Thị Thanh U – Sinh năm 1996; vắng mặt Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Huy C không có việc làm ổn định, thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, đi lang thang tìm kiếm sơ hở để chiếm đoạt tài sản của người khác. Khoảng 20 giờ ngày 07/3/2020, C điều khiển xe mô tô YAMAHA Grande, màu xanh, số khung RLCSE7620JY057439, số máy E3N4E-205551, đeo BKS 92H4-6152 đi theo Quốc lộ 1A, chiều Thanh Hóa – Ninh Bình, đến đoạn thuộc tổ dân phố 2, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. C quan sát thấy tại vỉa hè phía bên phải đường Quốc lộ 1A có chị Nguyễn Thị Hạ V đứng một mình đang sử dụng điện thoại di động IPHONE 7 PLUS, mặt trước màu trắng, mặt sau màu hồng, có ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đỏ, lắp sim số thuê bao 0813635689, C nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của chị V. C điều khiển xe mô tô đi lên vỉa hè dựng xe cách vị trí chị V đứng khoảng 20m-30m rồi đi bộ về phía chị V, vừa đi vừa quan sát; khi đến gần vị trí chị V, C thấy chị V sử dụng xong điện thoại di động và bỏ vào túi áo hông bên phải. C tiếp tục đi đến sát chị V, dùng tay phải thò vào túi áo móc chiếc điện thoại di động IPHONE 7 PLUS cầm ở tay phải rồi bỏ chạy về vị trí xe mô tô. Thấy C thò tay vào túi lấy điện thoại di động của mình bỏ chạy, chị V hô hoán và đuổi theo. Khi C vừa ngồi lên xe mô tô thì chị V chạy tới túm giữ được chiếc điện thoại di động C đang cầm ở tay phải rồi kéo C xuống khỏi xe mô tô và giằng co với C để lấy lại điện thoại di động của mình. Quá trình giằng co với chị V, chiếc vòng hạt C đeo ở tay trái bị đứt, hạt vòng bằng gỗ, màu nâu đen rơi xuống vỉa hè cách vị trí xe mô tô C dựng khoảng 2m-3m. Thấy chị V giằng điện thoại và kéo C xuống khỏi xe, C dùng tay trái đấm 02 cái trúng vào vùng tai trái của chị V làm sưng đỏ nhưng chị V vẫn tiếp tục giằng co để lấy lại điện thoại di động của mình. C lấy trong túi quần bên trái ra 01 dao gấp bằng kim loại dài 17cm, trong đó lưỡi dao dài 7,5cm, rộng nhất 2cm, cán dao dài 9,5cm và một mặt được bọc nhựa màu vàng cầm ở tay trái giơ lên trên đầu chị V đe dọa đâm; chị V sợ hãi buông tay không túm giữ điện thoại di động đang giằng co với C nữa. C bỏ điện thoại di động chiếm đoạt được của chị V và dao gấp của mình vào túi quần rồi khiển xe mô tô đi lên phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Chị Nguyễn Thị Hạ V sau khi bị Cường chiếm đoạt điện thoại di động đã đến Công an phường N, thành phố T trình báo. Xác định tố giác có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T nên Công an phường N đã chuyển tố giác về tội phạm kèm tài liệu có liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T. Hồi 23 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ 12 hạt vòng bằng gỗ, màu nâu đen.
Tiến hành truy bắt Vũ Huy C theo trình báo của chị Nguyễn Thị Hạ V; đến khoảng 00 giờ 10 ngày 08/3/2020, tại đường Nguyễn Đình Hoàn thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phát hiện, kiểm tra đối với Vũ Huy C; thu giữ tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, mặt trước màu trắng, mặt sau màu hồng, có ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đỏ, lắp 01 sim số thuê bao 0813635689 và tại túi quần bên trái 01 dao gấp. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 xe mô tô YAMAHA Grande, màu xanh, đeo BKS 92H4-6152 và 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, màu đen. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và áp giải C về trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T.
Ngày 09/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động kèm ốp lưng điện thoại mà Vũ Huy C đã chiếm đoạt được của chị Nguyễn Thị Hạ V. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 10/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: trị giá còn lại của 01 điện thoại IPHONE 7 PLUS màu trắng – hồng là 11.041.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo, màu đỏ là 68.000 đồng; tổng trị giá tài sản là 11.109.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Huy C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT – VKS ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Huy C ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Huy C phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Vũ Huy C từ 08 (tám) năm đến 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 08/3/2020.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy
- 01 dao gấp bằng kim loại dài 17cm, trong đó lưỡi dao dài 7,5cm, rộng nhất 2cm, cán dao dài 9,5cm và một mặt được bọc nhựa màu vàng.
- 12 hạt vòng bằng gỗ, màu nâu đen.
- 01 mũ bảo hiểm;
ơ
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng đã thu giữ; Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 07/3/2020, tại tổ 2, phường N, thành phố T, Vũ Huy C dùng tay đấm vào mang tai, dùng dao gấp là hung khí nguy hiểm đe dọa, uy hiếp tinh thần của chị Nguyễn Thị Hạ V, làm cho chị V sợ hãi không còn khả năng chống cự để chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, mặt trước màu trắng, mặt sau màu hồng, có ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đỏ, có trị giá 11.109.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vụ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)…
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang tâm lý trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý bảo vệ tài sản. Mặt khác còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn phường N nói riêng và trên địa bàn thành phố T nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Đối với Vũ Huy C là người trưởng thành nhưng không chịu tu chí làm ăn luôn tìm mọi sơ hở trong việc quản lý tài sản của người dân nhằm chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo dùng tay đánh và dùng hung khí nguy hiểm là chiếc dao bấm de dọa ngay tức gây nguy hiểm cho chị V với mục đích cướp đến cùng chiếc điện thoại của chị V. Từ những căn cứ trên xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 14 ngày 10/2/2015 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tính đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành án phí và số tiền truy thu nên chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục dấn sâu vào con đường phạm tội nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 của Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Vũ Huy C có nhân thân rất xấu đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi táng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Huy C.
Về trách nhiệm dân sự: Vũ Huy C phạm tội gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe cho chị Nguyễn Thị Hạ V. Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thu giữ tài sản, trả lại nguyên vẹn cho Chị V; đối với thiệt hại về sức khỏe, chị V xác định không lớn, từ chối giám định và tự khắc phục và không yêu cầu C phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô của chị Nguyễn Thị Thanh U và anh Trần Công Đ đã nhận lại xe mô tô còn nguyên vẹn, không có ý kiến gì về yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với 01 dao gấp bằng kim loại dài 17cm, trong đó lưỡi dao dài 7,5cm, rộng nhất 2cm, cán dao dài 9,5cm và một mặt được bọc nhựa màu vàng; 12 hạt vòng bằng gỗ, màu nâu đen; 01 mũ bảo hiểm là công cụ phạm tội và tài sản của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, mặt trước màu trắng, mặt sau màu hồng, có ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đỏ, lắp 01 sim số thuê bao 0813635689 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hạ V bị Vũ Huy C chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại điện thoại di động cho chị Vy nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 xe mô tô YAMAHA Grande, màu xanh, đeo BKS 92H4-6152. Quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh U và anh Trần Công Đ cho Vũ Huy C mượn, anh Đ, chị Un không biết việc C sử dụng chiếc xe này để đi cướp tài sản. Ngày 14/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô trên cho vợ chồng anh Đ.
Đối với chiếc BKS 92H4-6152 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam để điều tra xử lý.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Huy Cường phạm tội: Cướp tài sản.
- Xử phạt bị cáo Vũ Huy C 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 08 tháng 3 năm 2020.
2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) dao gấp bằng kim loại dài 17cm, trong đó phần lưỡi dao dài 7,5cm, một lưỡi sắc, một đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi là 2cm, thân dao có chữ USA, phần cán dài 9,5cm và một mặt của cán dao được bọc một phần nhựa vàng màu đen.
- 12 (mười hai) hạt vòng tròn bằng gỗ, màu nâu – đen, các hạt vòng có kích thước giống nhau cụ thể đường kính 1,5 cm, giữa hạt có một lỗ tròn nhỏ đường kính 0,3 cm.
- 01 mũ bảo hiểm màu đen , dạng mũ lưỡi trai che đầu, có dây cài bằng vải, kích thước 30 x 20 cm, phía trước mũ được gắn một dây da màu đen, phía sau mũ khoét một lỗ hình chữ C;
Những vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 6 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
3/Về án phí:
Buộc bị cáo Vũ Huy C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình - Sở tư pháp - VKSND TP. Tam Điệp; - Cơ quan CSĐT và Cơ quan thi hành án hình sự TP. T; - Chi cục THADS TP. T; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Lưu: hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Ngọc Tú |