vanban.org

Bản án 42/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 06(Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12(Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn C thay đổi nơi cư trú thì th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội" trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN THƢỜNG XUÂN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày 24 tháng 11 năm 2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Lê Sỹ Hỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Bình.

2. Bà Hà Thị Hòa.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2020/TLST- HS ngày 30/10/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:41/2020/QĐXXST-HS ngày 10/11/2020 đối với bị cáo:

1.Nguyễn Văn C - sinh ngày 12/7/1987 tại: xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá; Trú tại: Thôn TT, xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn O(đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Có vợ là: Mai Thị H – sinh năm 1991(đã ly hôn) và 01 con nhỏ.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

2. Ngƣời bị hại:

- Anh Hoàng Hữu Th – sinh năm 1971(vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1972(có mặt).

Đều trú tại: Thôn BĐ, xã VX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa.

3. Ngƣời làm chứng:

- Chị Hoàng Thị L – sinh năm 1996(vắng mặt).

Trú tại: Thôn BĐ, xã VX, huyện ThX, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 00 phút, ngày 28/8/2020, Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/7/1987 đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 36B5 – 629.28 màu xanh đen bạc từ nhà ở thôn TT, xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa, lên thôn Bù Đồn, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa để bán thuốc lào và nước nắm. Sau khi bán hàng xong thì C có nhớ là hẹn mang biếu một người đàn ông ở gần cây xăng xã Vạn Xuân một can nước mắm ngon, C điều khiển xe mô vào quầy hàng của nhà chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 ở thôn Bù Đồn, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân để tìm mua nước nắm. Nguyễn Văn C để xe mô tô ngoài lề đường rồi đi vào quầy hàng của gia đình chị H và gọi “Cô ơi bán cho cháu chai nước mắm”, C quan sát thấy chị H đang ngồi thái hành ở phía sau máy lọc nước và thấy trên mặt kính máy lọc nước ở gần chỗ bán hàng có 02 chiếc điện thoại OPPO A5s màn hình cảm ứng, màu đen của anh Hoàng Hữu Th, sinh năm 1971 và chiếc điện thoại OPPO A1K màn hình cảm ứng, màu đỏ của chị Nguyễn Thị H đặt chồng lên nhau. Lợi dụng lúc chị H không để ý quầy hàng nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, C tiến lại lấy 02 chiếc điện thoại nêu trên cho vào túi quần sau bên trái đang mặc. Ngay lúc này có chị Hoàng Thị L, sinh năm 1996 là con dâu của chị H đi ra bán cho C 02 chai nước mắm với giá 200.000đ. Sau khi mua được nước mắm, Nguyễn Văn C ra lấy xe mô tô đi về nhà. Trên đường về, C đã tháo sim vứt bỏ bên lề đường, còn 02 chiếc điện thoại đem về cất giấu ở đầu giường ngủ của mình.

Ngay sau khi phát hiện mất tài sản. Chị Nguyễn Thị H đã báo cáo Công an xã Vạn Xuân và Cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân giải quyết.

Ngày 29/8/2020, Nguyễn Văn C đã ra đầu thú và giao nộp cho cơ quan điều tra 02 chiếc điện thoại có đặc điểm như trên. Đồng thời cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36B5 – 629.28 màu xanh đen bạc.

Ngày 30/8/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân đã yêu cầu định giá đối với 02 chiếc điện thoại mà C trộm cắp của gia đình chị H để xác định giá trị tài sản tại thời điểm mất trộm. Tại kết luận số 30/KL – ĐGTS ngày 01/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Xuân kết luận: 01 chiếc điện thoại OPPO A5s màn hình cảm ứng, màu đen trị giá 1.550.000đ; 01 chiếc điện thoại OPPO A1K màn hình cảm ứng, màu đỏ trị giá 1.050.000đ. Tổng trị giá 02 chiếc điện thoại là 2.600.000đ(Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại thoại OPPO A5s màn hình cảm ứng màu đen, 01 chiếc điện thoại OPPO A1K màn hình cảm ứng màu đỏ xác định là tài sản của anh Hoàng Hữu Th và chị Nguyễn Thị H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Chị H, anh Th không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn C.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 36B5 – 629.28 màu xanh đen bạc là tài sản của Nguyễn Văn C dùng làm phương tiện đi lại, nên tiếp tục thu giữ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTX ngày 29/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo;

Xử phạt Nguyễn Văn C mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; Ngoài ra còn đề nghị HĐXX xử lý về xử lý vật chứng theo quy định tại khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B5 – 629.28 cho bị cáo; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Người bị hại trong phần tranh luận: không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào phòng nghị án:

Bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhân định như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, lời khai của người bị hại, người làm chứng và kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 28/8/2020 Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút vào cửa hàng tạp hóa của gia đình chị Nguyễn Thị H trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động gồm: chiếc điện thoại OPPO A5s màn hình cảm ứng, màu đen trị giá 1.550.000đ của anh Hoàng Hữu Th; 01 chiếc điện thoại OPPO A1K màn hình cảm ứng, màu đỏ trị giá 1.050.000đ của chị Nguyễn Thị H. Tổng trị giá 02 chiếc điện thoại là 2.600.000đ(Hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của vụ án thì thấy:

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi của bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người khác, đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ; gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý đúng mức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình đã gây ra.

Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú về hành vi phạm tội; người bị hại tại phiên tòa hôm nay đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy cần áp dụng điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

Xét điều kiện kinh tế của bị cáo thì thấy điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành án. Do vậy không cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.

Về đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, án phí và xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đã có ý kiến đề nghị. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt: Từ những căn cứ nêu trên, cần áp dụng quy định tại khoản 1, Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để bị cáo yên tâm cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện gạt bỏ lỗi lầm trở thành công dân có ích cho xã hội

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 36B5 – 629.28 màu xanh đen bạc là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Văn C là phương tiện đi lại phục vụ cho việc buôn bán hàng hóa của C ở các xã của huyện Thường Xuân, chiếc xe này không dùng vào mục đích phạm tội nên không liên quan đến vụ án; do đó trả lại chiếc xe mô tô trên cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.Xử phạt: Nguyễn Văn C 06(Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12(Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 36B5 – 629.28.

Vật chứng này có đặc điểm thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 02/11/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Xuân.

*Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, người bị hại Nguyễn Thị H. Những người này được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại Hoàng Hữu Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ