- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TỈNH!CÀ!MAU! Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày 28 - 02 - 2020 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn
Ông Hoàng Văn Vương
-! Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau!tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1972; nơi sinh: huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không có; nơi cư trú: Ấp CK, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Lâm Thị P (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố về tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 20/10/2019 có hành vi dùng dao đâm chị Sơn Thị P tử vong nên bị tạm giam từ ngày 29/10/2019;!Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Huỳnh Tố Trinh là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau. (có mặt)
-Bị hại:
1.Ông Cao Văn H, sinh năm 1976
Người nhận ủy quyền của ông Cao Văn H: Bà Trần Mộng N, sinh năm 1981 (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/10/2019) (có mặt).
2.Bà Trần Mộng N, sinh năm 1981 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp XL, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ sáng ngày 11/10/2019 Trần Văn T một mình từ nhà thuộc ấp CK, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau điều khiển phương tiện võ Composite với máy Vanguard 6HP đi mò hào để bán. Đến lúc 15 giờ cùng ngày T bán hào xong nên điều khiển võ máy chạy về nhà; khi đến đoạn A thuộc ấp XL, xã HTK thì phát hiện có một võ Composite và một máy Mitsubishi 6HP màu cam của bà Trần Mộng N đậu cặp mé kinh ở trước nhà không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy cắp bán lấy tiền đóng hụi. T chạy vượt qua chỗ đậu võ máy 40 mét không thấy ai thì quay đầu võ máy lại đồng thời tắt máy. T dùng cây dằm bơi ngược lại cặp sát võ của bà N đang đậu và bước sang võ dùng hai tay nhắc máy Mitsubishi bỏ qua võ của mình rồi dùng thùng đậy máy đậy lại. Lúc này bà N cùng con là Cao Hoàng K đang trên đường đi bộ về gần đến nhà mình thì phát hiện T đang có hành vi lấy trộm máy của mình nên truy hô và rượt đuổi theo. Biết bị phát hiện nên T khởi động máy điều khiển võ bỏ chạy về nhà của mình thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, kết luận giá trị tài sản: 01 máy hiệu Mitsubishi 6HP màu cam, mua tháng 8/2019 với giá 7.000.000 đồng (bao gồm máy và dàn cầu Inox), máy đã qua sử dụng với giá trị thực tế còn lại là 6.790.000 đồng
Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 05/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trần Văn T về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội trộm cắp tài sản. Phạt bị cáo Trần Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù.
2
Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chai thuốc trừ sâu, các vật chứng còn lại đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện Thới Bình về hành vi bị cáo thực hiện; thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo T trình bày: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình cũng như trình bày của người bào chữa cho bị cáo.
Bà N trình bày: Bà N yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bà N đã nhận lại tài sản không bị thiệt hại nên bà N không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Do không có tiền đóng hụi nên vào lúc 15 giờ ngày 11/10/2019 tại khu vực thuộc ấp XL, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, bị cáo có hành vi lén lúc trộm 01 máy hiệu Mitsubishi 6HP màu cam của vợ chồng bà Trần Mộng N và ông Cao Văn H đang để trên võ đậu cặp mé kinh trước nhà và bị bắt quả tang. Tổng tài sản mà bị cáo trộm là 6.790.000 đồng.
[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu đã thu thập có tại
3
hồ sơ. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở kết luận Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 05/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luât.
[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật muốn trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ cho lợi ích bản nhân nên đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội nói chung và gây hoang mang lo sợ trong quá trình gìn giữ tài sản ở địa phương nói riêng. Do đó, bị cáo cần bị xử phạt với mức hình phạt thật nghiêm để phòng ngừa chung và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài sản bị cáo trộm đã thu giữ ngay và trả lại cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc, không biết chữ, gia đình có công với cách mạng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, trong quá trình bị cáo được tại ngoại điều tra bị cáo chưa ăn năn hối cải, chưa có ý thức tuân thủ pháp luật, có hành vi dùng dao đâm chị Sơn Thị Phượng là vợ bị cáo dẫn đến tử vong nên bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố về tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo không thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác định đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp, không bị hư hỏng thiệt hại nên không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xét.
[7] Vật chứng tại vụ án: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 01 máy VANGUARD 6HP màu đen, 01 vỏ Composite dài 6,1m màu xanh và 01 thùng đậy máy màu xanh làm Composite; Tuy vật chứng này bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng là tài sản chung của gia đình không phải của riêng bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Riêng chai thuốc trừ sâu hiệu DECIS đã qua sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
4
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội trộm cắp tài sản.
2. Về trách nhiệm hình sự:
Phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Thời hạn tạm giữ của bị cáo kể từ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019 được đối trừ vào thời gian bị cáo chấp hành án.
3. Về vật chứng tại vụ án: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy 01 chai thuốc trừ sâu hiệu DECIS.
-Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 vỏ Composite dài 6,1m màu xanh, 01 máy hiệu VANGUARD 6HP màu đen và 01 thùng đậy máy màu xanh làm bằng composite.
4. Nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo và bà N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
!Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!!
- Tòa án tỉnh Cà Mau; -Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện Thới Bình;
- Công an huyện Thới Bình;
- Chi cục THA huyện Thới Bình;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn!Kiều!Trang
5