- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trình Văn Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:42/2020/HS-ST Ngày 22/7/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Cường
Nghề nghiệp, chức vụ: Chuyên viên phòng giáo dục huyện Hậu Lộc
Bà Đoàn Thị Dung.
Nghề nghiệp, chức vụ: Chủ tịch MTTQ xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Trình Văn Tr; sinh năm 1997 tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ danh tính) và bà Trình Thị Tr; vợ, con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2020 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Cháu Đặng Văn H, sinh ngày 09/5/2011. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1971 Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã Ng, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.
Người làm chứng:
1. Anh Trình Văn Th, sinh năm 1992. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1986. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Th, xã Ng, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12h30’ ngày 11/3/2020, Trình Văn Tr mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S và chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE màu đen bạc biển kiểm soát 36B5-06949 của anh trai là Trình Văn Th để đi chơi. Trên đường đi Tr lên cơn nghiện ma túy, bản thân lại không có tiền mua ma túy để sử dụng nên Trường điều khiển xe mô tô đến quán sữa chữa điện thoại Sơn Hiền ở thôn Th, xã Ng để vay tiền, khi gặp anh S, Tr nói “Anh cho em mượn 200.000 đồng em có việc gấp, tý em quay lại em trả anh sau” nhưng anh S không cho vay, trường nói tiếp “Em để chiếc máy lại đây, lát về gửi tiền em xin lại”, đồng thời Trường đưa chiếc điện thoại IPHONE 6S cho anh S, anh S đồng ý và đưa cho Tr vay số tiền 200.000 đồng. Sau khi có tiền Tr điều khiển xe mô tô đến thôn B , xã Ng để nhờ người mua hộ ma túy, đến đoạn ngõ hẽm thuộc khu vực thôn B, Tr thấy cháu Đặng Văn H, sinh năm 2011 đang đi bộ ngược chiều với Tr trên tay cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh, thấy cháu H còn nhỏ không có người lớn đi cùng, trong ngõ hẽm không có người qua lại nên Tr nãy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu H, Tr điều khiển xe đi lại gần cháu H rồi tắt máy, đá chân chống nhưng Tr vẫn ngồi trên xe và nói “ Cháu cho chú mượn điện thoại gọi một cuộc” đồng thời dùng tay phải nhanh chóng giật chếc điện thoại trên tay cháu H rồi nổ máy xe chạy vòng quanh xã Ng.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Tr điều khiển xe về quán sửa chữa điện thoại S H trả lại cho anh S số tiền 200.0000 đồng mà Tr đã vay trước đó và lấy lại chiếc điện thoại IPHONNE 6S, Tr lấy điện thoại vừa cướp giật được đưa cho anh S và hỏi “Máy của em giờ bán được bao nhiêu tiền” anh S cầm điện thoại và nói “ con sam sung Galaxy A10 này anh mua được 1.250.000 đồng em bán thì anh lấy” Tr đồng ý bán cho anh S với số tiền 1.250.000 đồng, số tiền này Tr sử dụng tiêu sài cá nhân.
Ngày 12/3/2020 Trình Văn Tr đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐG ngày 17/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hậu Lộc kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh trị giá 2.170.000 đồng. Ngày 09/6/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Gala xy A10 cho cháu Đặng Văn H và chị Hoàng Thị H là người đại diện hợp pháp cho cháu H, chị H không yêu cầu bị cáo Tr bồi thường gì thêm
Về vật chứng: Xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE biển kiểm soát 36B5-069.49 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe môtô trên là của anh Trình Văn Th (anh trai Tr) do Tr tự lấy đi, anh Th không biết, do đó cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Th.
Đối với anh Hoàng Văn S là người mua chếc điện thoại Samsung GalaxyA10 của Trình Văn Tr với số tiền 1.250.000 đồng. Qúa trình điều tra xác định anh S không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý về hình sự đối với Sơn. Ngày 06/5/2020 anh Trình Văn Th ( anh trai Trình Văn Tr) đã trả lại số tiền 1.250.000 đồng cho anh S, anh S không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 44/CT-VKSHL ngày 25/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trình Văn Tr về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trình Văn Tr phạm tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Trình Văn Tr từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về phần bồi thường dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Vào khoảng 12h30’ ngày 11/3/2020, Trình Văn Tr lợi dụng buổi trưa, trên đường không có người qua lại nên khi nhìn thấy cháu H đang cầm điện thoại trên tay liền nãy sinh ý định chiếm đoạt, Tr nhanh chóng tiếp cận cháu H và dừng xe lại hỏi mượn điện thoại để gọi, sau đó Trường liền dùng tay giật chiếc điện thoại trên tay cháu Hưng rồi nhanh chóng nổ xe tẩu thoát. Chiếc điện thoaị di động nhãn hiệu Sam sung Ga la xy A10 màu xanh của cháu Hưng trị giá 2.170.000 đồng.
Hành vi giật điện thoại của cháu H là người chưa đủ 16 tuổi là nguy hiểm cho xã hội, hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo Trình Văn Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, lợi dụng cháu nhỏ không có người lớn đi cùng nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự, gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về phần bồi thường dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trình Văn Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trình Văn Tr 42 (Bốn mư i hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2020.
Án phí: Buộc bị cáo Trình Văn Tr chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: -. TAND tỉnh Thanh Hóa - VKSND tỉnh Thanh Hóa - VKSND huyện Hậu Lộc. - C quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc. - C quan THA hình sự huyện Hậu Lộc. - Chi cục THA dân sự huyện Hậu Lộc. - Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp. - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. - Lưu hồ s vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Cao Thị Nga |