vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Nguyễn Mạnh T 09 ( chín) tháng tù.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điể m a khoả n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh T- Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Nguyễn Mạnh T 09 ( chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS - ST
Ngày: 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng.

Ông Mai Thanh Tùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hòng Thắm- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2020/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1982; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm 6, xã HQ, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh Hùng, đã chết và bà Hà Thị Cầm, sinh năm 1959; vợ là Vũ Thị Thảo, sinh năm 1983; có 04 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/01/2020 bị Công an xã Hải Phúc xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Ngày 09/5/2016 bị Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 04/01/2018. Bị tạm giam từ ngày 12/5/2020 cho đến nay.

- Bị hại: Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm Thức Tới, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng: Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 3, xã HQ, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại, người làm chứng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 10/4/2020, Nguyễn Mạnh T đến nhà ông Vũ Văn Đ là bác họ của T để mượn tiền. Khi đến nơi, thấy nhà ông Đ đóng cổng nhưng không khoá, T mở cổng đi vào trong sân gọi nhưng không ai trả lời, thấy nhà ông Đ không khoá cửa, không có ai trông coi, quan sát thấy trên hiên nhà có 01 chiếc bình phun thuốc trừ sâu, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc bình phun thuốc nên đã lại lấy chiếc bình phun thuốc rồi mang bán cho chị Vũ Thị Th, sinh năm 1985 ở xóm 3, xã Hải Quang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định với giá 210.000đ. Sau khi nhận đơn trình báo của ông Vũ Văn Đ Công an xã Hải Thanh đã triệu tập T đến làm việc và thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại. Quá trình điều tra T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL–HĐĐG ngày 15/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Hải Hậu kết luận: Chiếc bình phun thuốc trừ sâu nhãn hiệu BMC-16L ANPHA tại thời điểm định giá có giá trị là 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số 41/CT-VKS-HH, ngày 31/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Đề nghị không á p dụ ng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã phạm tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậ u, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cở sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 10/4/2020, lợi dụng sơ hở của gia đình ông Vũ Văn Đ, Nguyễn Mạnh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc bình bơm thuốc trừ sâu trị giá 350.000đ đồng. Ngày 13/01/2020 bị cáo đã bị Công an xã Hải Phúc xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, do đó hành vi nêu trên của bị đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u đã truy tố đố i vớ i bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Trong vụ án bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối lỗi; trong quá trình điều tra, bị hại có lời khai xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mẹ đẻ bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại. Đến nay bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Nguyễn Mạnh T 09 ( chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-5-2020.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điể m a khoả n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống Đ bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ