- Tranh chấp gì? án hình sự — "San Dé Mờ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sần Dé Mphạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày 24/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hoà
2. Ông Tẩn A Liều
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 24 /9/ 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41 /2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ tên: Sần Dé M(tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 02 năm 1988 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T c, xã N, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hà nhì; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Sần Giờ Xa, sinh năm 1966; Con bà: Phàn Tả Mẩy, sinh năm 1968, Đều trú tại: Thôn T c, xã N, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bị cáo Sần Dé Mlà người có nhân thân xấu:Tại Bản án hình sự số 35/2014/HSST ngày 20/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xử phạt Sần Dé M06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 20/6/2015 Sần Dé Mchấp hành xong thời gian thử thách án treo. Tính đến ngày phạm tội, Sần Dé Mđã được xóa án tích; Tại Quyết định số 79/QĐ -TA ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở nghiện bắt buộc đối với Sần Dé Mtrong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 09/6/2017. Đến ngày 04/6/2018, Sần Dé Mchấp hành xong trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị hại: Anh Sần Thó X- Sinh năm 1997
Địa chỉ: Thôn Ml, xã Y, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Thương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 17/7/2020, Sần Dé Mđi bộ từ nhà tại Thôn T c, xã N, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đi lên xã Ý Tý, huyện Bát Xát để chơi. Sau đó, Sần Dé Mđi ra đường tỉnh lộ để bắt xe khách về nhà nhưng không có xe, Sần Dé Mđi bộ khoảng 03 km, khi đi đến nhà Sần Thó Xá, sinh năm 1997, trú tại thôn Ml, xã Y, huyện Bát Xát, Sần Dé Mnhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu đen (chưa có biển kiểm soát) đang dựng lề đường bên phải tỉnh lộ 158 hướng đi Y Tý - Nậm Pung, lúc này Sần Dé Mnảy sinh ý định trộm cắp tài sản, quan sát xung quanh không thấy có người trông coi, Sần Dé Mtiến lại gần chiếc xe mô tô và dắt ra đường rồi ngồi lên xe thả trôi dốc cách nhà Sần Thó Xkhoảng 100m thì dừng lại. Sần Dé Mdùng tay giật dây điện ở phần đầu xe đấu nối đề nổ máy và điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi về nhà cất giấu và đi ngủ. Sáng ngày 18/7/2020, Sần Dé Mdùng chiếc tô vít bốn cạnh, dài khoảng 20 cm tháo ắc quy xe mô tô vừa trộm cắp được mang đi bán cho anh Cao A Pả sinh năm 1986, trú cùng thôn được 80.000 đồng, số tiền này, Sần Dé Mđã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Sần Thó Xđi tìm xe thì phát hiện chiếc xe mô tô để ở trong nhà Sần Dé Mvà trình báo công an xã Nậm Pung. Công an xã Nậm Pung đã triệu tập Sần Dé Mxuống làm việc và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thu giữ tang vật là chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu đen (không có biển kiểm soát). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát đã tiến hành thu giữ 01 bình ắc quy màu đen do Cao A Pả giao nộp.
Ngày 20/7/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 10 đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Detech, màu sơn đen (không có biển kiểm soát) là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 08/KL.HDĐG ngày 03/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bát Xát kết luận: 01 xe mô tô kiểu dáng Win, nhãn hiệu DETECH màu sơn đen, số khung 405219 số máy 405210 (xe mới mua, chưa có đăng ký xe và biển kiểm soát) giá trị còn lại là 11.900.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sần Dé Mvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Sần Dé Mphạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đinh tại khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Sần Dé M từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Sần Dé Mnêu quan điểm: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sần Dé Mvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đề nghị hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo tuổi đời còn trẻ là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo,ăn năn hối cái, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.
Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Sần Dé M06 tháng tù giam.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Vì vậy hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo khai do muốn có tiền chi tiêu để phục vụ nhu cầu của bản thân nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngày 17/7/2020, bị cáo đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH màu sơn đen có trị giá 11.900.000 đồng của anh Sần Thó Xvới mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Sần Dé Mra trước tòa về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản tại bản án hình sự số 35/2014/HSST ngày 20/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đến ngày 20/6/2015 bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo, đến ngày 31/7/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở nghiện bắt buộc tại quyết định số 79/QĐ-TA thời hạn 12 tháng kể từ ngày 09/6/2017, đến ngày 04/6/2018 bị cáo chấp hành xong trở về địa phương. Tính đến ngày phạm tội, bị cáo Mờ đã được xóa án tích. Khi trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị ở địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Đối với đề nghị của người bào chữa xét xử bị cáo Sần Dé Mmức án 06 tháng tù không được chấp nhận bởi lẽ bị cáo Sần Dé Mlà đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý, bị cáo nhân thân xấu, do đó mức hình phạt người bào chữa đề nghị chưa đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Vì vậy hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của người bào chữa. Mức hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp được chấp nhận.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự và vấn đề có liên quan đến vụ án:
Đối với anh Cao A Pả là người đã mua 01 bình ắc quy, màu đen của Sần Dé Mvới giá 80.000 đồng vào ngày 18/7/2020. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ anh Cao A Pả không biết chiếc ắc quy trên là tài sản do Sần Dé Mtrộm cắp mà có và tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra nên không đề cập xử lý. Số tiền 80.000 đồng, anh Cao A Pả cho bị cáo Mờ và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng trong vụ án:
Đối với chiếc 01 xe mô tô kiểu dáng Win, nhãn hiệu DETECH màu sơn đen và 01 bình ắc quy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Sần Thó Xá, anh Sần Thó Xđã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, về trách nhiệm hình sự, anh Sần Thó Xđề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc tô vít 04 cạnh dài khoảng 20 cm, sau khi tháo lấy bình ắc quy đem đi bán, Sần Dé Mđã để ở nhà của Sần Dé Mờ. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên không đề cập xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập, không có tài sản gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên; bị cáo đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.
Về án phí: Buộc bị cáo Sần Dé Mphải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sần Dé Mphạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sần Dé M09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2020.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Sần Dé Mphải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hoà
Tẩn A Liều
Nguyễn Thị Minh Đức
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND Bát Xát; - Công an huyện Bát Xát (2); - Cq thi hành án hình sự Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; - Bị cáo; Bị hại; NBC (02) - Thi hành án (3); - Lưu HS, THS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Đức |