- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn T và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên t ch thu tiêu hủy
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày 18 - 12 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ph m Th Thu H ng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Chương
2. Bà Trần Th Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thu Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Th Mai Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020, t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2020/TLST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với các b cáo:
1. Lù Văn T; Giới tính: Nam, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 5 năm 1997 t i huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Nùng; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Lù Văn X, sinh năm 1974; Con bà Thèn Th T, sinh năm 1980, hiện đều trú t i Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vợ con: Chưa có.
Tiền án: không
Tiền sự: không
Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.
B cáo b t m giữ ngày 20/8/2020, t m giam ngày 29/8/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. Sin Chân P; Giới tính : Nam, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 6 năm 1994 t i huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn c, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Xin Văn Q, sinh năm 1965; Con bà: Pảo Th M, sinh năm 1971, hiện đều trú t i Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vợ: Lèng Th T, sinh năm 1994. Trú t i: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai, b cáo có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.
B cáo b t m giữ ngày 20/8/2020, t m giam ngày 29/8/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
3. Hồ Tiến T, Giới tính: Nam (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 4 năm 2002, t i huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hồ Xuân C, sinh năm 1977; Con bà: Thèn Th M, sinh năm 1981, hiện đều trú t i Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Vợ con: Chưa có
Tiền án: Không
Tiền sự: B cáo có 01 tiền sự. T i quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 06/4/2020 của Công an xã C, huyện B, xử ph t Hồ Tiến T 750.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 10/4/2020 Hồ Tiến T đã chấp hành xong quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính. Tính đến thời điểm ph m tội lần này, Hồ Tiến T chưa được xóa tiền sự.
B cáo b t m giữ ngày 20/8/2020, t m giam ngày 29/8/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho b cáo Lù Văn T và Hồ Tiến T: Bà Trần Th Chinh - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho b cáo Sin Chân P: Bà Đỗ Th Thu Ba - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
B h i: Anh Sèn Văn T, sinh năm: 1985 và ch Nguyễn Th T, sinh năm 1984. Cùng cư trú t i: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Người đ i diện theo ủy quyền của anh Sèn Văn T ch Nguyễn Th T. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đinh Quang B, anh Hà Văn B, anh Sần M nh H, anh Hoàng Văn T, anh Nguyễn Hoàng H, anh Nguyễn Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nên đêm ngày 14/8/2020, Sin Chân P, Lù Văn T, Hồ Tiến T rủ nhau đi hát karaoke ở quán Karaoke Hoàng H ở th trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai, cả ba hát karoke từ khoảng hơn 23 giờ ngày 14/8/2020 đến khoảng 04 giờ ngày 15/8/2020 hết 3.300.000 đồng. Do không có tiền trả tiền hát nên Hồ Tiến T thỏa thuận với chủ quán là anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1988, trú t i tổ dân phố số 3, th trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai cho Hồ Tiến T để l i xe máy Yamaha Sirius biển kiểm soát 24B1-614.85 làm tin, hẹn sẽ quay l i trả tiền sau và nhờ anh Nguyễn Hoàng H gọi hộ xe taxi. Trong lúc chờ xe taxi, Lù Văn T hỏi Sin Chân P b ng tiếng dân tộc với nội dung là tìm chỗ nào trộm cắp tài sản để lấy tiền chuộc xe máy, thì Sin Chân P nói có nhà người quen là vợ chồng anh Sèn Văn T vợ là ch Nguyễn Th T ở Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai có két sắt chắc là có tiền. Khi taxi đến quán karaoke, cả ba lên xe taxi biển kiểm soát 24A-093.12 do anh Đinh Quang B, sinh năm 1982, trú t i tổ dân phố N, th trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai điều khiển và bảo Đinh Quang B chở đến Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi còn cách ngõ rẽ vào nhà anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T khoảng 100m thì Sin Chân P bảo Đinh Quang B dừng l i ở trên đường Quốc lộ 70. Sin Chân P, Lù Văn T, Hồ Tiến T ngồi trên xe khoảng 05 phút thì thấy anh Sèn văn T, ch Nguyễn Th T ra khỏi nhà đi bán hàng. Sin Chân P và Lù Văn T xuống xe, đi bộ vào nhà quan sát thấy các cửa chỉ khép hờ không khóa. Do thường đến nhà anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T chơi nên Sin Chân P biết v trí để két sắt của gia đình, Sin Chân P mở cửa nhà đi vào buồng đến v trí để két sắt. Sin Chân P và Lù Văn T xoay két sắt d ch ra xa tường nhà rồi lật két sắt n m xuống đất. Tiếp đó, Sin Chân P và Lù Văn T cùng khiêng két sắt ra đặt ở cổng. Do két sắt nặng Lù Văn T bảo Sin Chân P ra bảo Đinh Quang B lùi xe vào gần két. Lúc này, Hồ Tiến T cũng xuống xe cùng Sin Chân P, Lù Văn T bê két sắt để vào trong cốp xe taxi, còn Đinh Quang B vẫn ngồi trên xe taxi. Khi cả ba lên xe thì Đinh Quang B hỏi "két của ai?" Sin Chân P trả lời két của nhà P. Do tin tưởng lời nói củaSin Chân P nên Đinh Quang P điều khiển xe ô tô chở Sin Chân P, Lù Văn T và Hồ Tiến T cùng chiếc két sắt quay về hướng th trấn B. Trên đường đi, Lù Văn T hỏi Sin Chân P b ng tiếng dân tộc "xem có chỗ nào vắng vắng không đập két ra", Sin Chân P nói "két này không đập được", Lù Văn T nói "đi vào xem có nhà ai không mượn đồ đập". Khi đến đ a phận xã N, huyện B Hồ Tiến T xuống xe đi vào một nhà dân ở ven đường hỏi mượn búa, xà beng nhưng không mượn được. Khi Hồ Tiến T lên xe có nói b ng tiếng phổ thông với Lù Văn T và Sin Chân P về việc không mượn được xà beng, Đinh Quang B nghe thấy nên gọi điện tho i cho b n là Hoàng Văn T, sinh năm 1988, trú t i thôn C, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai để hỏi mượn xà beng hộ. Sau khi mượn được xà beng, Đinh Quang B tiếp tục điều khiển xe ô tô chở Sin Chân P, Lù Văn T, Hồ Tiến T đi tiếp, khi xe đi đến km 11 đường tỉnh lộ 153 thuộc đ a phận thôn C, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai thì Sin Chân P bảo Đinh Quang B dừng xe l i ven đường và mở cốp xe. Sau đó, Sin Chân P, Lù Văn T, Hồ Tiến T xuống xe, khiêng két sắt xuống khu vực đất trống bên trái đường theo hướng đi, còn Đinh Quang B vẫn sử dụng điện tho i. T i đây Lù Văn T và Hồ Tiến T thay nhau cầm xà beng cậy phá két sắt. Khi mở được cánh cửa két Hồ Tiến T lấy 300.000 đồng tiền lẻ trong két cầm trên tay. Sin Chân P cầm 01 ví giả da màu tím và 01 điện tho i OPPO A31 rồi mở ví lấy số tiền 5.400.000 đồng cùng một số giấy tờ trong ví sau đó vứt ví l i. Lù Văn T cầm túi hồ sơ trong két mang theo, trong túi hồ sơ có 5.000.000 đồng. Sau khi lấy được tài sản, cả ba lên taxi và bảo Đinh Quang B trả xà beng rồi chở Sin Chân P, Lù Văn T, Hồ Tiến T lên th trấn B. Đến th trấn B, Sin Chân P trả cho Đinh Quang B 900.000 đồng tiền thuê xe taxi, sau khi nhận tiền công chở taxi Đinh Quang B đi về nhà còn các b cáo đi lên thành phố L, sau đó đi xe khách lên huyện X, tỉnh Hà Giang chơi. Sau khi về nhà Đinh Quang B nghi ngờ hành vi của các b cáo nên đã đến Công an trình báo sự việc, ngày 20/8/2020 Lù Văn T, Sin Chân P, Hồ Tiến T b Công an huyện Bảo Thắng triệu tập đến làm việc, các b cáo đã giao nộp các tài sản còn l i của vụ án, gồm số tiền 210.000 đồng, 01 điện tho i OPPO A31 và một số giấy tờ cá nhân của gia đình ch T.
T i kết luận đ nh giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 24/8/2020 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng kết luận: 01 điện tho i OPPO A31 có giá tr 4.490.0000 đồng (bốn triệu, chín trăm chín mươi ngàn đồng), 01 két sắt Việt Tiệp có giá tr 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tổng giá tr là 6.490.000 đồng (sáu triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng).
T i bản cáo tr ng số 37/CT-VKS ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T về tội Trộm cắp tài sản theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
T i phiên toà đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết đ nh truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T ph m tội tội Trộm cắp tài sản theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Trong đó:
Về hình ph t chính:
- Đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Lù Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.
- Đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Sin Chân P từ 09 đến 12 tháng tù.
- Đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Hồ Tiến T từ 09 đến 12 tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề ngh áp dụng Điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T phải liên đới bồi thường cho vợ chồng anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T số tiền 6.590.000 đồng (sáu triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng). Xác nhận b cáo Sin Chân P đã tự nguyện bồi thường cho vợ chồng anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.590.000 đồng (hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng). Số tiền còn thiếu là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Buộc b cáo Lù Văn T phải bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
B cáo Hồ Tiến T phải bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên t ch thu tiêu hủy: 01 cánh cửa két b ng kim lo i màu ánh kim, kích thước 51cm x 49cm x 8cm, mặt ngoài góc bên trái có in logo màu đỏ vàng và chữ "Việt Tiệp", phần bản lề của cánh cửa b cong, vênh, nứt vỡ biến d ng, tay nắm và bảng mã còn nguyên vẹn, trên bộ phận bảng mã có khe lắp pin kích thước 5,04cm x 6cm, trên khe lắp pin có 04 rãnh để lắp pin, mặt trong của két có nhiều bộ phận linh kiện, dây điện; 01 hộp kim lo i có kích thước 51cm x 49cm x 22cm, một mặt kín một mặt hở, trên bề mặt bên ngoài và bên trong b biến d ng nhiều chỗ, sơn màu nâu đen, hộp kim lo i chia làm 2 ngăn; 01 tấm kim lo i sơn màu nâu đen, kích thước 51,5cm x 37cm x 17cm b móp méo nhiều chỗ; 01 mảnh kim lo i b cắt nham nhở không đ nh hình, mặt ngoài sơn màu nâu đen; 01 mảnh kim lo i b cong vênh chầy xước dính nhiều đất màu nâu, có chữ "Việt Tiệp" và nhiều chữ nước ngoài, kích thước 9,6cm x 2,5cm có màu đen chủ đ o, màu trắng ánh kim và màu vàng; 01 pin con thỏ (lo i pin nhỏ) nhiều chữ và hoa văn màu đỏ; 04 mảnh kim lo i không đ nh hình màu xám; 01 tệp giấy b nát, dính chặt có in nhiều chữ Việt Nam không còn giá tr sử dụng.
Người bào chữa cho b cáo Lù Văn T và Hồ Tiến T trình bày luận cứ bào chữa và đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Lù Văn T từ 09 đến 12 tháng tù; Đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Hồ Tiến T 06 tháng tù.
Người bào chữa cho b cáo Sin Chân P trình bày luận cứ bào chữa và đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Sin Chân P từ 07 đến 09 tháng tù.
B h i và là người đ i diện theo ủy quyền của b h i Sèn Văn T đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Về hành vi ph m tội của các b cáo: T i phiên tòa các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T đã khai nhận khoảng hơn 5 giờ ngày 15/8/2020 các b cáo đến nhà anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T trộm cắp một két sắt mang lên thôn C, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai cậy phá két lấy được tổng số tiền là 10.700.000 đồng và 01 điện tho i di động oppo A31. Lời khai nhận tội của các b cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, lời khai của b h i, của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng đ nh cáo tr ng số 37/CT-VKS ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các b cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên các b cáo cũng hiểu rất rõ tài sản của công dân là bất khả xâm ph m, tài sản đó được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi lén lút bí mật chiếm đo t tài sản của người khác đều phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó, song do các b cáo ham chơi lười l i lao động l i muốn có tiền để tiêu xài nên các b cáo đã ph m tội. Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tr an t i đ a phương và gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó đối với các b cáo cần phải có một mức án tương xứng với hành vi ph m tội của các b cáo để cải t o giáo dục các b cáo và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này các b cáo ph m tội không có sự câu kết chặt chẽ, chỉ mang tính chất đồng ph m giản đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đánh giá vai trò của từng b cáo để có một mức án phù hợp với hành vi ph m tội của từng b cáo.
Đối với b cáo Lù Văn T là người chủ mưu, khởi xướng và cùng Phương vào nhà anh ch Sèn Văn T, Nguyễn Th T khiêng két ra xe, b cáo đã cùng Hồ Tiến T đập phá két và tích cực thực hiện hành vi ph m tội, nên b cáo Lù Văn T giữ vai trò chính trong vụ án.
Đối với b cáo Sin Chân P khi thấy b cáo Lù Văn T nói tìm chỗ nào trộm cắp tài sản để lấy tiền chuộc xe máy b cáo đã không can ngăn mà đồng tình ngay và nói nhà anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T là người quen của b cáo ở xã P, huyện B có két sắt chắc có tiền, nên các b cáo đã về xã P để trộm cắp và Sin Chân P trực tiếp vào nhà anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T khiêng két ra xe cùng cậy phá két nên b cáo giữ vai trò là người thực hành tích cực trong vụ án.
Đối với b cáo Hồ Tiến T khi được rủ đi trộm cắp tài sản b cáo đồng tình hưởng ứng ngay và trực tiếp thực hiện hành vi ph m tội, cùng khiêng két, đi mượn xà beng về đập phá cậy két nên b cáo cũng là người thực hành tích cực trong vụ án sau b cáo Sin Chân P.
. Về nhân thân của các b cáo:
B cáo Lù Văn T và Sin Chân P đều là đối tượng có nhân thân tốt.
B cáo Hồ Tiến T là đối tượng đã có 01 tiền sự, t i quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 06/4/2020 của Công an xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai xử ph t Hồ Tiến T 750.000 đồng (bẩy trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 10/4/2020 Hồ Tiến T đã chấp hành xong quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính, tính đến thời điểm ph m tội lần này, b cáo chưa được xóa tiền sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các b cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các b cáo ph m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ph m tội nhưng gây thiệt h i không lớn, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, t i phiên tòa b h i xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các b cáo, các b cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật phần nào còn có h n chế nhất đ nh. Ngoài ra b cáo Sin Chân P còn tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt h i cho b h i, do đó cũng cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh t i điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các b cáo, ngoài ra cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho b cáo Sin Chân P để giảm nhẹ phần nào trách nhiệm hình sự cho các b cáo thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
. Về các vấn đề liên quan trong vụ án:
Liên quan trong vụ án còn có anh Đinh Quang B là lái xe taxi biển kiểm soát 24A-093.12 chở các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P, Hồ Tiến T đi trộm cắp tài sản, nhưng khi chở các b cáo từ th trấn B, huyện B về Thôn C, xã P, huyện B và ngược l i thì anh Đinh Quang B không biết việc các b cáo đi đâu, làm gì. Khi anh Đinh Quang B mượn xà beng cho các b cáo anh cũng không biết mục đích các b cáo dùng xà beng làm gì. Sau khi các b cáo trộm cắp được tài sản, thì anh Đinh Quang B không được chia tài sản do trộm cắp mà có. Sau đó, do nghi ngờ hành vi của các b cáo, anh Đinh Quang B đã đến Cơ quan điều tra trình báo toàn bộ nội dung sự việc. Do đó, hành vi của Đinh Quang B không đủ yếu tố cấu thành tội ph m, nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Hoàng Văn T là người cho mượn xà beng; Hà Văn B và Sần M nh H là người nhặt vỏ két sắt mang đi bán; Nguyễn Văn P là người mua vỏ két sắt nhưng những người này đều không biết và không liên quan đến hành vi ph m tội của các b cáo. Do đó, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm là có căn cứ đúng pháp luật.
. Về hình ph t bổ sung: Xét thấy các b cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình ph t bổ sung đối với các b cáo
. Về trách nhiệm dân sự: Ch Nguyễn Th T là b h i đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của b h i anh Sèn Văn T trình bày gia đình ch b các b cáo vào trộm cắp một két sắt Việt Tiệp bên trong két có số tiền là 10.700.000 đồng (mười triệu bẩy trăm ngàn đồng), 01 điện tho i OPPO A31 tr giá 4.490.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm chín mươi ngàn đồng) và sổ tiết kiệm cùng một số giấy tờ cá nhân và chiếc két sắt b các b cáo cậy phá làm hư hỏng có giá tr 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tổng giá tr tài sản gia đình ch b thiệt h i là 17.190.000 đồng (mười bẩy triệu, một trăm chín mươi ngàn đồng). Cơ quan điều tra đã thu giữ được toàn bộ sổ tiết kiệm, các giấy tờ cá nhân và thu giữ được số tiền 6.110.000 đồng (sáu triệu một trăm mười ngàn đồng) trả cho gia đình ch , số tài sản còn thiếu có tr giá là 6.590.000 đồng (sáu triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng), ch yêu cầu các b cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình ch . Đến nay gia đình b cáo Sin Chân P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ch 2.590.000 đồng (hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng), còn thiếu 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) ch yêu cầu b cáo Lù Văn T và Hồ Tiến T phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình ch . Xét yêu cầu của ch Nguyễn Th T là có căn cứ nên cần chấp nhận buộc b cáo Lù Văn T và Hồ Tiến T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
- Đối với số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tiền công chở taxi mà các b cáo lấy từ tiền trộm cắp được của gia đình anh Tuấn, ch Toán trả cho anh Bộ, khi biết đó là tài sản do trộm cắp mà có anh Đinh Quang B đã giao nộp l i cho Cơ quan điều tra, đồng thời anh Đinh Quang B cho các b cáo số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) công chở taxi, anh không yêu cầu các b cáo phải trả cho anh số tiền này. Nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ
- 01 cánh cửa két b ng kim lo i màu ánh kim, kích thước 51cm x 49cm x 8cm, mặt ngoài góc bên trái có in logo màu đỏ vàng và chữ "Việt Tiệp", phần bản lề của cánh cửa b cong, vênh, nứt vỡ biến d ng, tay nắm và bảng mã còn nguyên vẹn, trên bộ phận bảng mã có khe lắp pin kích thước 5,04cm x 6cm, trên khe lắp pin có 04 rãnh để lắp pin, mặt trong của két có nhiều bộ phận linh kiện, dây điện; 01 hộp kim lo i có kích thước 51cm x 49cm x 22cm, một mặt kín một mặt hở, trên bề mặt bên ngoài và bên trong b biến d ng nhiều chỗ, sơn màu nâu đen, hộp kim lo i chia làm 2 ngăn; 01 tấm kim lo i sơn màu nâu đen, kích thước 51,5cm x 37cm x 17cm b móp méo nhiều chỗ; 01 mảnh kim lo i b cắt nham nhở không đ nh hình, mặt ngoài sơn màu nâu đen; 01 mảnh kim lo i b cong vênh chầy xước dính nhiều đất màu nâu, có chữ "Việt Tiệp" và nhiều chữ nước ngoài, kích thước 9,6cm x 2,5cm có màu đen chủ đ o, màu trắng ánh kim và màu vàng; 01 pin con thỏ (lo i pin nhỏ) nhiều chữ và hoa văn màu đỏ; 04 mảnh kim lo i không đ nh hình màu xám; 01 tệp giấy b nát, dính chặt có in nhiều chữ Việt Nam là tài sản của gia đình ch Nguyễn Th T. Do tài sản b các b cáo cậy phá không còn giá tr sử dụng nên gia đình ch Nguyễn Th T không nhận l i, nên cần tuyên t ch thu để tiêu hủy.
- Thu giữ 01 điện tho i OPPO A31, số tiền 210.000 đồng (hai trăm mười ngàn đồng) do b cáo Sin Chân P giao nộp; số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) n m trong túi hồ sơ do b cáo Lù Văn T giao nộp và số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tiền các b cáo trộm cắp được trả tiền thuê xe taxi cho anh Đinh Quang B, 01 ví giả da màu tím, bên ngoài có chữ "Banlean"; 03 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Sèn Quốc Đ, Nguyễn Th T, Sèn Th Kiều A; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Th T; 01 thẻ ATM Agribank mang tên Nguyễn Th T; 03 giấy khai sinh mang tên Sèn Văn T, Sèn Quốc Đ, Sèn Th Kiều A; 01 sổ hộ khẩu gia đình; 01 giấy chứng nhận kết hôn giữa Sèn Văn T và Nguyễn Th T; 01 chứng chỉ đào t o nghề mang tên Sèn Văn T; 01 bộ hồ sơ lái xe mô tô mang tên Sèn Văn T; 01 bộ hợp đồng bảo hiểm Bảo an gia đình Việt mang tên Sèn Văn T; 01 sổ tiết kiệm số 7242081 của ngân hàng Lien Viet Post Bank; 01 sổ tiết kiệm số 7242080 của ngân hàng Lien Viet Post Bank; 01 sổ tiết kiệm số 5652365 của ngân hàng Lien Viet Post Bank và 01 sổ tiết kiệm của ngân hàng Agribank tất cả đều mang tên Nguyễn Th T. Quá trình điều tra xác đ nh đây là tài sản của gia đình ch Nguyễn Th T nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết đ nh xử lý vật chứng trả l i cho chủ sở hữu hợp pháp.
- Thu giữ 01 chứng minh nhân dân mang tên Sin Chân P, 01 ví giả da nam màu đen. Đây là tài sản của Sin Chân P, xét thấy không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả l i cho Sin Chân P, mẹ b cáo là bà Pảo Th M nhận thay b cáo.
- Thu giữ 01 điện tho i Oppo F1S màu vàng, vỏ máy có nhiều vết xước, máy cũ đã qua sử dụng; 01 giấy biên nhận thế chấp số LCI20170492/HĐTC/06; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 190301238 mang tên Thàng Th Mơ; 01 xe ô tô MISUBISHI ATTRAGE số khung A13AHH007143, số máy 3A92-UGC5100, BKS 24A-093.12; 01 giấy kiểm đ nh số KD 1774313. Quá trình điều tra xác đ nh đây là tài sản của gia đình anh Đinh Quang B, Do đó cơ quan điều tra đã ra quyết đ nh xử lý vật chứng trả l i cho gia đình anh Đinh Quang B.
- Thu giữ 01 xà beng b ng sắt, hình lục giác, dài 1,38m, một đầu dẹp, một đầu nhọn, đường kính 2,8cm là tài sản của anh Hoàng Văn T, khi cho mượn anh Thành không biết các b cáo dùng để cậy phá két, do đó cơ quan điều tra đã ra quyết đ nh xử lý vật chứng b ng hình thức trả l i cho chủ sở hữu hợp pháp.
Sau khi nhận l i tài sản gia đình b h i Nguyễn Th T, b cáo Sin Chân P, anh Đinh Quang B, anh Hoàng Văn T không yêu cầu đề ngh gì đối với số tài sản đã nhận l i nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Các b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh t i khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về đề ngh của Kiểm sát viên, các b cáo, người bào chữa cho các b cáo và b h i:
Xét thấy đề ngh của Kiểm sát viên về hình ph t chính đối với các b cáo và về vật chứng là phù hợp với quy đ nh của pháp luật, tuy nhiên các b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét để có một mức án phù hợp với hành vi ph m tội của các b cáo.
Xét thấy đề ngh của người bào chữa đối với b cáo Lù Văn T và Sin Chân P về hình ph t chính là phù hợp với quy đ nh của pháp luật, riêng mức đề ngh với b cáo Hồ Tiến T về hình ph t chính còn nhẹ chưa đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi ph m tội của b cáo nên không thể chấp nhận.
Các b cáo không đề ngh gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
B h i và là người đ i diện theo ủy quyền của b h i Sèn Văn T xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các b cáo. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa b cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình ph t:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Lù Văn T 11 (mười một) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/8/2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Sin Chân P 08 (tám) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/8/2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Hồ Tiến T 08 (tám) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/8/2020.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc b cáo Lù Văn T, Sin Chân P và Hồ Tiến T phải liên đới bồi thường cho vợ chồng anh Sèn Văn T, ch Nguyễn Th T 6.590.000 đồng (sáu triệu, năm trăm chín mươi ngàn đồng).
Xác nhận b cáo Sin Chân P đã bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.590.000 đồng (hai triệu, năm trăm chín mươi ngàn đồng)
B cáo Lù Văn T phải bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
B cáo Hồ Tiến T phải bồi thường cho anh Sèn Văn T và ch Nguyễn Th T 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên t ch thu tiêu hủy: 01 cánh cửa két b ng kim lo i màu ánh kim, kích thước 51cm x 49cm x 8cm, mặt ngoài góc bên trái có in logo màu đỏ vàng và chữ "Việt Tiệp", phần bản lề của cánh cửa b cong, vênh, nứt vỡ biến d ng, tay nắm và bảng mã còn nguyên vẹn, trên bộ phận bảng mã có khe lắp pin kích thước 5,04cm x 6cm, trên khe lắp pin có 04 rãnh để lắp pin, mặt trong của két có nhiều bộ phận linh kiện, dây điện; 01 hộp kim lo i có kích thước 51cm x 49cm x 22cm, một mặt kín một mặt hở, trên bề mặt bên ngoài và bên trong b biến d ng nhiều chỗ, sơn màu nâu đen, hộp kim lo i chia làm 2 ngăn; 01 tấm kim lo i sơn màu nâu đen, kích thước 51,5cm x 37cm x 17cm b móp méo nhiều chỗ; 01 mảnh kim lo i b cắt nham nhở không đ nh hình, mặt ngoài sơn màu nâu đen; 01 mảnh kim lo i b cong vênh chầy xước dính nhiều đất màu nâu, có chữ "Việt Tiệp" và nhiều chữ nước ngoài, kích thước 9,6cm x 2,5cm có màu đen chủ đ o, màu trắng ánh kim và màu vàng; 01 pin con thỏ (lo i pin nhỏ) nhiều chữ và hoa văn màu đỏ; 04 mảnh kim lo i không đ nh hình màu xám; 01 tệp giấy b nát, dính chặt có in nhiều chữ Việt Nam.
Toàn bộ vật chứng tuyên t ch thu tiêu hủy đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2020
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc b cáo Lù Văn T phải ch u 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).
Buộc các b cáo Sin Chân P phải ch u 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc b cáo Hồ Tiến T phải ch u 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).
Các b cáo và b h i có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND Bảo Thắng; - Tr i t m giam CA tỉnh Lào Cai; - Cơ quan THA HS CA tỉnh LC; - Công an huyện Bảo Thắng; - Sở tư pháp tỉnh LC; - B cáo (03); - Người bào chữa cho b cáo (02); - B h i (02); - Thi hành án hình sự (03); - Chi cục Thi hành án dân sự BT; - Lưu HS,TA,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Hằng |