- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Diễm C xin ly hôn với anh Nguyễn Thương T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm C đối với anh Nguyễn Thượng T về việc “Ly hôn”. Cho chị Trần Thị Diễm C được ly hôn với anh Nguyễn Thượng T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST Ngày: 08/07/2020 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Anh
2. Bà Vũ Thị Đượm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 06 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 06 năm 2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm C, sinh năm 1986 (có mặt).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Thượng T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Cùng trú tại: Số 452, tổ 12, khu 3, ấp H, xã B, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/01/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Diễm C trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thượng T tự nguyện tìm hiểu yêu thương và đăng ký kết hôn năm 2018 tại UBND phường Xuân Bình, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, trước đó anh chị chưa ai có vợ có chồng. Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do chị làm ăn thua lỗ, anh T lại hay nghi ngờ chị có người đàn ông khác bên ngoài, nên từ đó vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Anh T sống thiếu trách nhiệm với gia đình, tính tình gia trưởng, dẫn đến vợ chồng gây gỗ xúc phạm lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng ngày một rạng nứt, kéo dài đến tháng 12 năm 2019 chị dọn về nhà cha mẹ ruột sinh sống, hai vợ chồng ly thân và cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Thảo N. Sau khi ly hôn chị C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thượng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 10/06/2020 tại địa phương cho biết: chị Trần Thị Diễm C và anh Nguyễn Thượng T là vợ chồng và có 01 người con là Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016, vợ chồng anh chị hiện nay không sống chung với nhau, còn nguyên nhân anh chị mâu thuẫn địa phương không nắm rõ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án.
1/ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng quy định.
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị C khởi kiện tranh chấp ly hôn và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật là: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xin ky hôn với bị đơn có hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã B, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về tư cách tố tụng: Chị C có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh T, xác định chị C là nguyên đơn, anh T là bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ viện kiểm sát, tống đạt các văn bản tố tụng, xác minh, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
2/ Về việc tuân theo pháp luật của HĐXX và thư ký tại phiên tòa: Thực hiện đúng quy định.
3/ Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
4/ Về ý kiến giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: chị C và anh T chung sống từ năm 2013 có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh T sống thiếu trách nhiệm với vợ con, tính tình gia trưởng, thường xuyên ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng gây gỗ xúc phạm lẫn nhau. Anh chị không còn sống chung với nhau từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh T cố tình vắng mặt, không có lời khai hay trình bày gì, chứng tỏ mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu nguyên đơn.
Tại biên bản xác minh của Công an xã B xác nhận: anh T có đang sinh sống tại địa phương, tình trạng hôn nhân thì nay vợ chồng anh T và chị C không còn sống chung với nhau nữa.
Về con chung: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao các cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016 cho chị C nuôi dưỡng, tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trí.
Về tài sản chung và nợ chung: do anh T không có lời khai hay lời trình bày gì nên không giải quyết.
Bởi các lẽ trên: Căn cứ các Điều 9,11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Diễm C, chị C được ly hôn với anh Nguyễn Thượng T.
Về con chung: giao cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016 cho chị Trần Thị Diễm C trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Thượng T.
Về tài sản chung và nợ chung: không giải quyết.
5/ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Thượng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thượng T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa chị Trần Thị Diễm C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Thượng T. Xét yêu cầu khởi kiện của chị C Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Trần Thị Diễm C kết hôn với anh Nguyễn Thượng T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường X, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào 2013 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẩn giữa vợ chồng là do chị C làm ăn thua lỗ, anh T lại nghi ngờ chị C có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, tính tình gia trưởng, dẫn đến vợ chồng không còn tin tưởng. Kéo dài đến tháng 12 năm 2019 chị C dọn về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó, anh Trí cũng không gặp chị C để hàn gắn đoàn tụ.
Riêng anh T không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai và cung cấp chứng cứ theo quy định.
Xét cuộc hôn nhân giữa chị C và anh T tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận cho chị Trần Thị Diễm C được ly hôn với anh Nguyễn Thượng T là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: chị Trần Thị Diễm C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016 đến tuổi trưởng thành. Xét thấy cháu Nguyên đang do chị C nuôi dưỡng, hiện cháu chưa đủ 36 tháng tuổi nên việc giao cháu cho chị C nuôi dưỡng là phù hợp tại khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Chị C không yêu cầu anh Trí cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: chị C không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị C khai không có.
Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chị Trần Thị Diễm C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Xét quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khỏan 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm C đối với anh Nguyễn Thượng T về việc “Ly hôn”. Cho chị Trần Thị Diễm C được ly hôn với anh Nguyễn Thượng T.
2. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 25/05/2016 cho chị Trần Thị Diễm C trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thượng T.
Anh Nguyễn Thượng T được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh, chị được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không giải quyết.
4. Về án phí: chị Trần Thị Diễm C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị C đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 0009025 ngày 07/02/2020.
Chị Trần Thị Diễm C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Thượng T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND phường Xuân Bình; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kim Phượng |