vanban.org

Bản án 42/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Thành C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thành C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc T, sinh ngày 04/4/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Nguyễn Thành C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu cầu ly hôn với anh C do mâu thuẫn vợ chồng, có một con chung, không có tài sản chung, nợ chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Thành C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13/7/2020
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất.

Ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm C khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 263/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1987.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm: 1985.

Cùng địa chỉ: Thôn T, ấp A, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(chị H và anh C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai có trong hồ sơ, chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân gần 03 tháng nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 04/4/2018. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đồng thời chị có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Tại bản tự khai đề ngày 20/5/2020, anh Nguyễn Thành C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H tự nguyện thương yêu nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì tiền bạc nên chị H không quan tâm đến anh và đã ly thân được khoảng 02 đến 03 tháng nay, nhưng anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 04/4/2018. Ly hôn anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận C việc nên anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị H được ly hôn với anh C. Về con chung: Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh C không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị H phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thành C, sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn T, ấp A, xã B, huyện Trảng Bom, Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị H nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị H và anh C có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã T, huyện T, tỉnh H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 ngày 07/3/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án chị H vẫn yêu được ly hôn với anh C, tuy nhiên anh C trình bày anh còn tình cảm với chị và thương con nên anh không đồng ý ly hôn. Xét thấy các đương sự đều trình bày đã ly thân được 03 tháng, quá trình giải quyết vụ án nhiều lần triệu tập anh C để làm việc, nhưng anh C vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ gia đình, như vậy mâu thuẫn giữa chị H, anh C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh C là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung:

Anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Phúc T, sinh ngày 04/4/2018. Ly hôn chị H và anh C đều có yêu cầu được nuôi con chung, tuy nhiên cháu T dưới 36 tháng tuổi, đồng thời chị H có C việc ổn định và cháu sống với chị từ nhỏ, anh C làm việc ở C trình, thường xuyên đi làm xa nên chị H có điều kiện để nuôi con tốt hơn anh C, Hội đồng xét xử giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Thành C.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc T, sinh ngày 04/4/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Nguyễn Thành C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Thành C được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007141 ngày 04/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ