vanban.org

Bản án 42/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị C và anh Lê Hoàng N là quan hệ vợ chồng.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Lê Thị Mỹ H, sinh ngày 17/6/2018 cho chị Lê Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị C và anh Lê Hoàng N là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 27-7-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lẹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Lực

2. Ông Lê Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Phú Qúy là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 và giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1998; địa chỉ: khóm Đ, P. MT, TP LX, tỉnh An Giang; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Lê Hoàng N, sinh năm 1985; HKTT: ấp A, xã M, huyện L, Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: ấp T, xã B, huyện L, Đồng Tháp; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Lê Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị C với anh N kết hôn năm 2018, không đăng ký kết hôn, thời gian đầu sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do anh N không quan tâm chăm sóc gia đình, chị C và anh N đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh N.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ H, sinh ngày 17/6/2018 hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Lê Hoàng N trình bày:

Về hôn nhân: Anh N với chị C kết hôn năm 2018, không đăng ký kết hôn, thời gian đầu sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do không hợp nhau, chị C và anh N đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay anh N đồng ý ly hôn với chị C.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ H, sinh ngày 17/6/2018 hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, anh N đồng ý giao con chung cho chị C nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi ra quyết định xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định pháp luật. Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không công nhận quan hệ giữa chị C và anh N là quan hệ vợ chồng. Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị Mỹ H cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị C xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Lê Hoàng N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị C với anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh N có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để anh N tham gia phiên tòa, nhưng anh N không có mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh N là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị C với anh N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018, không đăng ký kết hôn và đã có với nhau 01 con chung, nguyên nhân mẫu thuẫn chị C trình bày là do anh N không chăm sóc gia đình, anh N cho rằng do không hợp nhau nên đã ly thân từ năm 2019 đến nay, mặc dù chị C và anh N có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh N là quan hệ vợ chồng là phù hợp với quy định tại Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân gia đình. Về tài sản và nợ: Chị C và anh N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nuôi con chung: Con chung tên Lê Thị Mỹ H, sinh ngày 17/6/2018 hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, anh N đồng ý giao con chung cho chị C nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con, từ khi ly thân đến nay cháu H vẫn được chị C chăm sóc chu đáo, phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, tiếp tục giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 15, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân gia đình, chị C không yêu cầu anh N cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị C cùng các thành viên gia đình chị C không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, được quy định tại Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản, nợ chung: Chị C và anh N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14, 15, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị C và anh Lê Hoàng N là quan hệ vợ chồng.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Lê Thị Mỹ H, sinh ngày 17/6/2018 cho chị Lê Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

2.3. Sau khi ly hôn, anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị C cùng các thành viên gia đình chị C không được cản trở anh N trong việc thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Thị Mỹ H.

3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Lê Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BH/2019/0005565 ngày 13/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

6. Chị Lê Thị C có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Hoàng N có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án này hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ