vanban.org

Bản án 42/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị D và anh Đỗ Văn P.

Về con chung: Giao chị D tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Ngọc D, sinh ngày 07-9-2017; giao anh Đỗ Văn P tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Diệu L, sinh ngày 07-9-2017 đến tuổi trưởng thành lao động tự lập được, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị D, anh P có quyền,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Dung và Đỗ Văn P"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị D và anh Đỗ Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THUỶ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST
Ngày:17/7/2020; V/v:Ly
hôn,tranhchấp về nuôi con giữa chị Đỗ
Thị D và anh Đỗ Văn P

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ông Ngọc Lễ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Giao Bà Quách Thị Lừng

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2020/ TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXX-ST ngày 30 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị D; sinh năm 1996; cư trú tại: xóm Nh, xã Giao N, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định “có mặt”

Bị đơn: Anh Đỗ Văn P; sinh năm 1994; cư trú tại: xóm Nh, xã Giao N, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09-3-2020, bản tự khai ngày 06-5-2020 và tại phiên tòa chị Đỗ Thị D nguyên đơn trong vụ án trình bày: Chị và anh Đỗ Văn P tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã Giao N, huyện Giao Thủy cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 09-11-2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, anh P dùng hành vi bạo lực với chị; vợ chồng đã sống ly thân được một năm nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương và không thể chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn P.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Diệu L, sinh ngày 07-9-2017 và Đỗ Ngọc D, sinh ngày 07-9-2017 hiện nay cháu D đang ở cùng chị, còn cháu L đang ở cùng anh P. Nguyện vọng của chị là chị nhận nuôi cháu D còn anh P nuôi cháu L đến tuổi trưởng thành có khả năng lao động tự lập được hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ và ruộng nhận khoán hợp tác xã, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản làm việc ngày 03 tháng 6 năm 2020 bị đơn là anh Đỗ Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Đỗ Thị D tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã Giao N, huyện Giao Thủy cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 09-11-2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị D đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở từ tháng 3 năm 2019. Nay chị D có đơn ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh theo đạo thiên chúa không được phép ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Diệu L, sinh ngày 07-9-2017 và Đỗ Ngọc D, sinh ngày 07-9-2017. Nguyện vọng của anh là anh nhận nuôi cháu L để chị D nuôi cháu D đến tuổi trưởng thành lao động tự lập được hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Nếu chị D không nuôi được con thì anh nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ và ruộng nhận khoán hợp tác xã, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị D và anh Đỗ Văn P Về con chung: Giao chị D trực tiếp nuôi cháu Đỗ Ngọc D, giao anh Đỗ Văn P trực tiếp nuôi cháu Đỗ Diệu L, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chị D, anh P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét thấy nội dung nguyên đơn chị Đỗ Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân, về nuôi con chung đối với anh Đỗ Văn P; Địa chỉ nơi cư trú: Đội 1, xóm Nh, xã Giao N, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Căn cứ vào Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định. Anh Đỗ Văn P (là bị đơn) xin vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị D và anh Đỗ Văn P tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã Giao N, huyện Giao Thủy cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09-11-2016 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống thực sự hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống.Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Trong quá trình giải quyết vụ án anh P cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì theo đạo thiên chúa giáo nên không được phép ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh P đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chấp nhận nguyện vọng của chị D xin ly hôn anh Phòng là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung sinh đôi là Đỗ Diệu Linh, và Đỗ Ngọc D, sinh ngày 07-9-2017, Chị D xin nhận nuôi cháu Đỗ Ngọc D, còn anh P xin nhận nuôi cháu Đỗ Diệu L đến tuổi trưởng thành có khả năng lao động tự lập được hai bên đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng của các bên đương sự về việc nuôi con là tự nguyện, phù hợp với thực tế và phù hợp pháp luật cần được chấp nhận. Vì vậy nay giao chị D tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Đỗ Ngọc D, giao anh P tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Đỗ Diệu L là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị D, anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, các mối quan hệ khác về tài sản và ruộng khoán của hợp tác xã: chị D, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị D và anh Đỗ Văn P.

2. Về con chung: Giao chị D tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Ngọc D, sinh ngày 07-9-2017; giao anh Đỗ Văn P tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Diệu L, sinh ngày 07-9-2017 đến tuổi trưởng thành lao động tự lập được, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị D, anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí ly hôn: Chị Đỗ Thị D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo biên lai thu số 0001249 ngày 23-4-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy (chị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).

4. Về quyền kháng cáo: Chị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ