vanban.org

Bản án 42/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/07/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền 2.263.069 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 1.704.556 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chap hop dong tin dung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 42/2020/DS-ST
Ngày: 21-7-2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Ngọc Diệp;

2.Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư kýphiên toà:Bà Nguyễn Thị Thương-Thư ký Tòa án nhân dân thành phốDĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diê ên Viê ên Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dươngxét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST-DS ngày 12/6/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2020/QĐST-DS ngày 02/7/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N; trụ sở: phường A, quận B, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Chi nhánh X, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Đức L, sinh năm 1980, chức vụ: Trưởng phòng khách hàng bán lẻ; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 90/UQ-NBD-KHBL ngày 24/02/2020).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979; thường trú: Phường E, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

(Ông Bùi Đức Lợi có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Nguyễn Văn Q vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng N thực hiện giao dịch tín dụng cho vay theo Hợp đồng cho vay với ông Nguyễn Văn Q với một số nội dung chính sau:

Hợp đồng cho vay cán bộ nhân viên số 765DA15:

- Số tiền cho vay: 30.000.000 đồng;

- Thời hạn vay: 36 tháng kể từ ngày Bên vay rút vốn lần đầu.

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tiêu dùng cho cán bộ nhân viên trung hạn VND được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng N - Chi nhánh X trong từng thời kỳ.

- Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, được tính trên nợ gốc thực tế quá hạn và thời gian quá hạn.

Tạm tính đến hết ngày 05/2/2020, tổng số nợ của ông Nguyễn Văn Q tại Ngân hàng là 6.095.501 đồng bao gồm:

- Nợ gốc: 3.843.000 đồng.

- Nợ lãi trong hạn: 1.749.843 đồng.

- Nợ lãi quá hạn: 502.658 đồng.

Quá thời hạn trả nợ, Ngân hàng nhiều lần gửi văn bản và liên hệ làm việc đề nghị trả nợ nhưng ông Q không thực hiện nghĩa vụ của mình. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q thanh toán toàn bộ khoản nợ như nêu trên và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong.

Quá trình Ngân hàng khởi kiện tại tòa án, ông Q đã thanh toán được số tiền nợ gốc là 3.843.000 đồng. Vì vậy, Ngân hàng N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 3.843.000 đồng.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Q trả số tiền lãi chưa thanh toán là 2.263.069 đồng (trong đó gồm lãi trong hạn 1.704.556 đồng; lãi quá hạn: 558.513 đồng).

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, cung cấp bản tự khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Văn Q trả số tiền nợ gốc 3.843.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, giấy triệu tập để tham gia tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có văn bản nào thể hiện ý kiến của bị đơn về việc không thừa nhận chữ ký của mình trong hợp đồng tín dụng mà nguyên đơn cung cấp.

Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác định: Ngày 11/11/2015, Ngân hàng N và ông Nguyễn Văn Q ký kết Hợp đồng cho vay cán bộ nhân viên số 765DA15. Nội dung hợp đồng, Ngân hàng N cho ông Q vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay để tiêu dùng, thời hạn vay 36 tháng. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Q số tiền 30.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 11/11/2015; lãi suất cho vay 11%/năm (lãi suất được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng N - chi nhánh X trong từng thời kỳ).

Hợp đồng tín dụng giữa các bên thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện rõ về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ về phạm vi hoạt động, quy định lãi suất theo Điều 90, 91 của Luật các tổ chức tín dụng, có ký xác nhận thể hiện sự tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật theo Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005.

Quá thời hạn trả nợ, ông Q không thanh toán đầy đủ nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 21/7/2020, ông Q đã thanh toán xong toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng, còn lại khoản tiền lãi chưa thanh toán là 2.263.069 đồng (trong đó gồm lãi trong hạn: 1.704.556 đồng; lãi quá hạn: 558.513 đồng). Xét thấy ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Q thanh toán tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên,có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền 2.263.069 đồng, trong đó gồm:

- Nợ lãi trong hạn: 1.704.556 đồng;

- Nợ lãi quá hạn: 558.513 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Q trả số tiền nợ gốc 3.843.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng.

Ngân hàng N không phải chịu. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0040199 ngày 10/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.

4. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ