- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI ĐỨC DŨNG - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 42 /2019/ HSST. Ngày: 19/4/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với D phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa : Bà Ngô Thị Vân.
Các hội thẩm nhân dân : Bà Trần Phan Thị Hà.
Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa : Ông Vũ Anh Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai thụ lý số 43/2019/TLST-HS ngày 04/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2019/QĐXXST-HS ngày 09/4/2019, đối với bị cáo:
Bùi Đức D Sinh năm: 1997.
Nơi sinh : Y.
Đăng ký hộ khẩu thường trú : Thôn 10, xã C, huyện Y, tỉnh Y.
Hiện sống lang thang.
Nghề nghiệp: không ; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc : Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Bùi Văn D và bà : Vũ Thị H; Vợ : Chưa.
Tiền sự: Chưa ; Tiền án: Chưa.
Bị cáo bị bắt ngày : 09/12/2018.
Có mặt.
Người làm chứng : Chị Nguyễn Thị H – sinh 1995. (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ : Thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 09/12/2018, Bùi Đức D đi đến ngõ chợ Khâm Thiên mua của một người đàn ông không quen biết 01gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua xong D cất số ma túy trên vào trong túi quần phía sau bên trái rồi đi xe ôm về phố Nguyễn Thị Đ. Một lúc sau, Nguyễn Thị H– sinh năm 1995 (địa chỉ : Thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh Y) là bạn gái D đi xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 21B1-701.07 đến gặp D và nhờ D chở Hiện di tìm phòng thuê trọ. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi D và Hiện đang đi đến khu vực ngã tư phố Liễu Giai giao cắt phố Đ, phường L, Quận B, thành phố H thì bị tổ công tác Y16/141 - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ vật chứng là 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, D khai là ma túy đá mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số 9375/KLGĐ-PC54 ngày 18/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,525gam.
Đối tượng bán ma túy cho D, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được lại lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng mang Biển kiểm soát 21B1 – 701.07 thu giữ của Bùi Đức D. Qua xác minh là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T và không liên quan đến vụ án, nên cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh Tiền.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 27/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình truy tố bị cáo Bùi Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai : Khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 09/12/2018, Bùi Đức D có hành vi tàng trữ trong túi quần phía sau bên trái 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,525gam, mục đích để sử dụng. đến khu vực ngã tư phố Liễu Giai giao cắt phố Đ, phường L, Quận B, thành phố H thì bị tổ công tác Y16/141 - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Bùi Đức D đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Đức D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy: 01 túi Methamphetamine, khối lượng: 0,525gam.
Tại phiên tòa Bùi Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng : Chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa và trình bày nội dung sự việc như sau: Khoảng đầu giờ ngày 09/12/2018 chị và anh Bùi Đức D là bạn trai chở đi tìm nhà trọ để thuê bằng xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng mang Biển kiểm soát 21B1 – 701.07 do chị mượn của anh trai chị là Nguyễn Văn T. Khi chị và D đi đến khu vực ngã tư phố Liễu Giai giao cắt phố Đ, phường L, Quận B, thành phố H thì bị tổ công tác Y16/141 - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính là khoảng 14 giờ 20 phút phát hiện Bùi Đức D có hành vi tàng trữ trong túi quần phía sau bên trái 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng D khai là ma túy đá, công an đã thu giữ và đã lập biên bản niêm phong tang vật và mời chị về trụ sở làm chứng sự việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Bùi Đức D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 09/12/2018, Bùi Đức D có hành vi tàng trữ trong túi quần phía sau bên trái 01 túi nilon ma túy loại Methamphetamine, cân nặng: 0,525gam mục đích để sử dụng, tại khu vực ngã tư phố Liễu Giai giao cắt phố Đ, phường L, Quận B, thành phố H thì bị tổ công tác Y16/141 - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Hành vi trên đây của Bùi Đức D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, là nguyên nhân làm lây lan và phát triển căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do nghiện ma túy và coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo: Là một thanh niên ở tỉnh ngoài về Hà Nội, song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nên đã đi vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo mặc dù chưa có tiền án tiền sự, song do nghiện ma túy nên đã cố ý tàng trữ trong người một lượng ma túy thể rắn để sử dụng. Thể hiện bị cáo là rất coi thường pháp luật, nên phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên tòa áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon Methamphetamine, cân nặng: 0,525gam.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào : - Điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt : Bùi Đức D 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2018.
- Căn cứ điều 106, 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình
sự.
- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong là ma túy tổng hợpMethamphetamine, có khối lượng: 0,525gam, đã qua giám định. Có chữ ký của cán bộ giám định và Bùi Đức D (theo biên bản giao nhận vật chứng số 58 ngày 26/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình).
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - Tòa án nhân dân TP Hà Nội. - Viện kiểm sát ND Quận Ba Đình. - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội. - Chi cục thi hành án Dân sự Quận Ba Đình. - Trại tạm giam số 1 Hà Nội. - UBND Xã C, huyện Y, tỉnh Y. - Bị cáo. - Lưu. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. (Đã ký) Ngô Thị Vân. |