vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H 07 (Bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự. Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bé H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự xử buộc; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

.
Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 26-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

2. Bà Vũ Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15, 19 và 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Gò Quao xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với Bị cáo:

Nguyễn Thị Bé H – sinh năm 1974, tại G, Kiên Giang.

Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1955 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1952; Chồng: Nguyễn Phi H, sinh năm 1972; Con: bị cáo có 03 người con ruột, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh ngày 24/8/2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Bà Cao Thị Đ – sinh năm 1957 (có mặt);

2. Bà Lâm Thị Ng – sinh năm 1946 (vắng mặt);

3. Bà Võ Thị Th – sinh năm 1955 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

4. Chị Nguyễn Hồng Tr – sinh năm 1994 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

5. Bà Lê Thị Đ – sinh năm 1962 (vắng mặt);

6. Bà Nguyễn Hồng T – sinh năm 1963 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

7. Bà Bùi Thị T – sinh năm 1970 (có mặt);

8. Bà Phan Thị S (Xại) – sinh năm 1949 (có mặt);

9. Bà Nguyễn Thị Thanh Ph – sinh năm 1978 (có mặt);

10. Bà Trần Thị S – sinh năm 1966 (có mặt);

11. Bà Mai Thị Kh – sinh năm 1965 (vắng mặt);

12. Bà Lê Thị N – sinh năm 1964 (vắng mặt);

13. Anh Cao Hoàng Ph – sinh năm 1988 (có mặt);

14. Bà Ngô Thị V – sinh năm 1963 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: ấp M, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

15. Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1968 (có mặt);

16. Bà Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1958 (có mặt);

17. Chị Trần Thị M – sinh năm 1986 (có mặt);

18. Bà Lê Thị H – sinh năm 1976 (có mặt);

19. Chị Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1995 (có mặt);

20. Bà Nguyễn Thị S – sinh năm 1954 (vắng mặt);

21. Bà Lê Thị L – sinh năm 1973 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: ấp V, xã V1, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

22. Chị Trương Kim C – sinh năm 1992 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp V, xã V1, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

23. Chị Phan Thị Thùy N – sinh năm 1989 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp O, xã VA, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

24. Bà Ngô Thị Đ – sinh năm 1946 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

(Bà Ng, bà Th, bà Đ, bà Kh, bà N, bà S, chị N, bà Đ vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2013, bị cáo Nguyễn Thị Bé H bắt đầu tổ chức áp hụi và làm chủ các dây hụi (loại hụi 500.000 đồng, 1.000.000 đồng, 3.000.000 đồng, 5.000.000 đồng), trong mỗi dây hụi Bé H hưởng tiền hoa hồng là 50% của chân hụi cho mỗi lần hốt trong dây hụi. Đồng thời có quy ước về thời gian, ngày giờ và địa điểm xổ hụi tại nhà của Bé H thuộc ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Bé H làm chủ hụi nhiều năm nên rất được sự tin tưởng của các hụi viên, cho đến năm 2015 do làm ăn bị thâm hụt tiền nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền của các hụi viên bằng hình thức Bé H tự ý ghi tên khống và tự hốt hụi, đồng thời gom hụi rồi không chung lại cho các hụi viên đã hốt mà chiếm đoạt tiền của các hụi viên sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân. Đối chiếu sổ sách ghi hụi từ năm 2013 đến tháng 9/2017 âl thì có nhiều dây hụi đã mãn và hiện còn 12 dây hại chưa mãn, trong 12 dây hụi chưa mãn có 10 dây hụi Bé H ghi khống tên Bính, Dì 10 và Tiền, kêu hụi giá cao để hốt hụi của hụi viên nhằm chiếm đoạt số tiền hốt hụi. Cụ thể 10 dây hụi lừa đảo gồm: 02 dây hụi mùa (5.000.000đ, 4 tháng xổ hụi 01 lần), 05 dây hụi tháng (1.000.000đ mỗi tháng xổ hụi một lần), 01 dây hụi hai tháng (3.000.000đ, 02 tháng xổ hụi một lần) và 02 dây hụi tháng (500.000đ, mỗi tháng xổ hụi một lần). Bằng thủ đoạn như trên, bị cáo Nguyễn Thị Bé H đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của các hụi viên với tổng số tiền 295.740.000đ (Hai trăm chín ngươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng), cụ thể ở các dây hụi sau:

1/- Dây hụi mùa 5.000.000đ (4 tháng xổ một lần) áp ngày 10/5/2016 âl gồm 10 chân. Dây hụi này xổ được 04 lần, Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền 24.000.000đ, ghi không tên Bính (01 chân) hốt hụi lần thứ tư chiếm đoạt số tiền 4.000.000đ. Như vậy, Bé H dùng tên khống để hốt hụi chiếm đoạt tổng số tiền là 28.000.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Hồng T (chị Bính), Nguyễn Thị L1 (5 Phông), Bùi Thị T (Chú Sắc), Phan Thị Thùy N (Nhi), Cao Hoàng Ph (anh Phong).

2/- Dây hụi mùa 5.000.000đ (4 tháng xổ một lần) áp ngày 10/9/2016 âl gồm 12 chân xổ được 03 lần. Dây hụi này Bé H chơi 01 chân tên Phi Hùng hốt ngày 10/9/2017 âl (chưa gom tiền). Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền 27.000.000đ, ghi khống tên Tiền (01 chân) hốt lần thứ hai chiếm đoạt với số tiền 25.500.000đ. Như vậy, tổng cộng Bé H dùng tên khống để hốt hụi chiếm đoạt tổng số tiền là 49.500.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Thị L (3 Liên), Nguyễn Thị Th (Chị Thấm), Lâm Văn Th (Chú Thanh), Trần Văn H (9 Hùng), Ngô Thị V (9 Tiếp), Lê Thị L (2 Đỉnh), Thị L.

3/- Dây hụi 02 tháng 3.000.000đ (02 tháng xổ một lần) áp ngày 10/9/2015 âl gồm 17 chân. Dây hụi này đã xổ được 11 lần. Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt hụi lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền: 23.800.000đ, ghi khống tên Tiền (01 chân) hốt lần thứ hai chiếm đoạt số tiền là 19.600.000đ. Như vậy Bé H dùng tên không để hốt hụi chiếm đoạt tổng số tiền là 43.400.000đ của các hụi viên, gồm: Cà Thum, Lâm Thị Ng (Cà Thum), Nguyễn Thị L1 (5 Phong), Trần Thị S (6 Thù).

4/- Dây hụi tháng 1.000.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 20/10/2015 âl gồm 26 chân (dây 1). Dây hụi này xổ được 18 lần. Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) để hốt hụi lần thứ tư chiếm đoạt số tiền 12.240.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Thị L1 (5 Phong ), Trần Thị S (6 Thù), Lâm Thị Ng (Cà Thum), Trương Kim C (Ní Thanh), Phan Thị S (10 Sáu), Mai Thị Kh (8 Kiều).

5/- Dây hụi tháng 1.000.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 20/10/2015 âl gồm 26 chân (dây 2). Dây hụi này xổ được 18 lần. Bé H chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị Sành (8 Phơ) 3.000.000đ. Trong dây hụi này Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt hụi lần thứ năm chiếm đoạt số tiền 17.840.000đ. Như vậy, dây hụi này Bé H chiếm đoạt tổng số tiền 20.840.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Thị Sành (8 Phơ), Nguyễn Thị L1 ( Phông), Lâm Thị Ngành và Cà Thum, Trần Thị S (6 Thù), Trương Kim C (Ní Thanh), Nguyễn Hồng Tr (4 Tặng), Mai Thị Kh (8 Kiều), Lê Thị L (2 Đỉnh).

6/- Dây hụi tháng 1.000.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 30/11/2015 âl gồm 22 chân. Hụi này đã xổ được 17 lần, Bé H chiếm đoạt 01 chân hụi của bà Nguyễn Thị L (3 Liên) số tiền 15.000.000đ. Trong dây hụi này Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt hụi lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền 9.600.000đ. Như vậy, dây hụi này Bé H chiếm đoạt tổng số tiền 24.600.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Thị L (3 Liên), Nguyễn Thị Đ (7 Điền), Trần Thị S (6 Thù), Nguyễn Thị L1 (5 Phong), Bùi Thị T (Chú Sắc).

7/- Dây hụi tháng 1.000.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 15/3/2016 al gồm 25 chân. Dây hụi này đã xổ hụi được 15 lần. Bé H chiếm đoạt 01 chân hụi của bà Ngô Thị Đ (3 Đáp) số tiền 13.980.000đ và bà Lê Thị Đ (7 Thi) là 6.000.000đ, tổng số tiền là 19.980.000đ. Trong dây hụi này Bé H ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt lần thứ nhất để chiếm đoạt số tiền là 13.200.000đ và ghi khống tên Tiền (01 chân) hốt hụi lần thứ ba để chiếm đoạt số tiền 14.540.000đ. Như vậy, dây hụi này Bé H chiếm đoạt tổng số tiền: 47.720.000đ của các hụi viên, gồm: Ngô Thị Đ (3 Đáp), Lê Thị Đ (7 Thi), Nguyễn Hồng T (chị Bính), Ngô Thị V (9 Tiếp), Cao Thị Đ (Cô Nga), Nguyễn Hồng Tr (Chinh), Nguyễn Hồng B (Nhung), Mai Thị Kh (8 Kiều), Trần Văn H (9 Hùng), Trương Thị T (6 Tiếp), Cao Hoàng Ph (Anh Phong).

8/- Dây hụi tháng 500.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 15/3/2016 al gồm 25 chân (dây 1). Dây hụi này đã xổ hụi được 15 lần, Bé H chiếm đoạt 01 chân hụi của anh Cao Hoàng Ph (Anh Phong) hốt ngày 15/9/2017 âl, số tiền 6.760.000đ và 01 chân hụi của bà Nguyễn Thị L (3 Liên) hốt ngày 15/4/2017 âl, số tiền 3.000.000đ. Trong dây hụi này Bé H ghi khống tên Tiền (01 chân) hốt hụi lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền 5.720.000đ, ghi khống tên Dì 10 (01 chân) hốt hụi lần thứ hai chiếm đoạt số tiền: 5.250.000đ. Như vậy, dây hụi này Bé H chiếm đoạt tổng số tiền: 20.730.000đ của các hụi viên, gồm: Nguyễn Thị L1 (5 Phong); Nguyễn Hồng Th (4 Tặng - Chinh), Lê Thị H (Hà), Nguyễn Thị Thanh Ph (Tiếng), Nguyễn Thị Đ (7 Điền ), Lê Thị N (Út Nhã), Cao Hoàng Ph (Anh Phong), Nguyễn Thị L (3 Liên ).

9/- Dây hụi tháng 500.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 15/3/2016 âl gồm 25 chân (dây 2). Dây hụi này đã xổ được 15 lần, Bé H đã chiếm đoạt 01 chân hụi của anh Cao Hoàng Ph (anh Phong) hốt ngày 15/9/2017 âl được số tiền 8.040.000đ và 01 chân hụi của Lê Thị L (7 Hoan) hốt ngày 15/4/2017 âl được 8.810.000đ. Trong dây hụi này Bé H ghi khống tên Dì 10 chơi (01 chân) để hốt hụi lần thứ ba chiếm đoạt số tiền 6.000.000đ, ghi khống tên Tiền (02 chân), chân thứ nhất hốt hụi lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền là 5.460.000đ và chân thứ hai hốt hụy lần thứ tám chiếm đoạt số tiền là 6.400.000đ. Như vậy, dây hụi này Bé H chiếm đoạt tổng số tiền 34.710.000đ của các hui viên, gồm: Lê Thị L (7 Hoan), Nguyễn Thị L1 (5 Phông), Nguyễn Thị Đ (7 Điền), Cao Hoàng Ph (Anh Phong), Cao Thị Đ (Cô Nga), Trần Thị M (Lẳm Liệt), Nguyễn Thị Th (Chị Thấm), Trần Văn C (Cường), Nguyễn Thị L (3 Liên).

10/- Dây hụi tháng 1.000.000đ (mỗi tháng xổ một lần) áp ngày 25/10/2016 âl gồm 31 chân. Dày hụi này đã xổ được 06 lần, Bé H ghi khống tên Dì 10 hốt hụi lần thứ nhất chiếm đoạt số tiền: 14.000.000đ của các hụi viên gồm: Nguyễn Văn Nhẫn (Diền), Nguyễn Thị Đ (7 Điền), Lê Thị N (Út Nhã), Trần Thị S (6 Thù), Phan Thị S (10 Sáu), Ngô Thị V (9 Tiếp), Võ Thị Th (9 Thơ), Nguyễn Thị L1 (Út Kiên), Nguyễn Thị L1 (Phú, Tú Chinh), Trương Thị T (6 Tiếp), Trần Văn C (Cường), Lê Thị L (2 Đỉnh), Nguyễn Thanh Ch (Chị Triền). Trong dây hụi này Bé H có ghi không tên Tiền tuy nhiên chân hụi này Bé H chưa hốt hụi.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSND-GQ ngày 30/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bé H ra trước Tòa án nhân dân huyện Gò Quao để xét xử với tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé H từ 07 – 08 năm tù giam.

* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt bằng 295.740.000đ và số tiền các hụi viên đã đóng cho bị cáo đến ngày bị cáo tuyên bố bể hụi bằng 331.166.000đ, tổng cộng 626.906.000đ (Sáu trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm lẻ sáu ngàn đồng), cụ thể của các bị hại sau:

1/ Cao Thị Đ (Cô Nga) số tiền là:

10.350.000đ

2/ Nguyễn Hồng Tr (Chinh) số tiền là:

21.935.000đ

3/ Nguyễn Thị L (3 Liên) số tiền là:

41.810.000đ

4/ Nguyễn Thị L1 (5 Phông) số tiền là:

188.281.000đ (trong này có 50.000.000đ tiền hụi bị can mượn).

5/ Lê Thị Đ (7 Thi) số tiền là:

6.000.000đ

6/ Nguyễn Hồng T (Chị Bính) số tiền là: 22.310.000đ

7/ Bùi Thị T (Chú sắc) số tiền là:

15.270.000đ

8/ Trương Kim C (Ní Thanh) số tiền là: 16.390.000đ

9/ Phan Thị S (10 Sáu) số tiền là:

30.460.000đ

10/ Nguyễn Thị Thanh Ph (Tiếng) số tiền là:

3.690.000đ

11/ Lâm Thị Ng (Cà Thum, 2 Miên) số tiền là: 14.905.000đ

12/ Trần Thị S (6 Thù) số tiền là:

61.470.000đ

13/ Ngô Thị V (9 Tiếp) số tiền là:

21.525.000đ

14/ Cao Hoàng Ph (Anh Phong) số tiền là: 28.825.000đ

15/ Mai Thị Kh (8 Kiều) số tiền là:

33.325.000đ

16/ Lê Thị N (Út Nhã) số tiền là:

13.920.000đ

17/ Trần Thị M (Lẳm Liệt) số tiền là:

3.495.000đ

18/ Lê Thị H (Hà) số tiền là:

3.690.000đ

19/ Nguyễn Thị Đ (7 Điền) số tiền là:

25.335.000đ

20/ Nguyễn Thị S (8 Phơ) số tiền là:

21.000.000đ

21/ Lê Thị L (2 Đỉnh, 7 Hoan, Út Quẫn) số tiền là: 21.730.000đ

22/ Phan Thị Thùy N (Nhi) số tiền là:

9.600.000đ

23/ Võ Thị Th (9 Thơ) số tiền là:

4.610.000đ

24/ Ngô Thị Đ (3 Đáp) số tiền là:

6.980.000đ

Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ngoài ra còn một số hụi viên: Trần Văn H (9 Hùng), Đặng Văn L (Tấn), Thị L (Thị), Nguyễn Văn N (Nhẫn Diền), Trần Thị Ph (Út Phú), Nguyễn Văn D (Duẩn), Hồ Thị T (chị Tiết), Đặng Thị C (10 Đi), Nguyễn Thị Kim Y (Yến), Cao Thị Chúc Ph (9 Bảnh) hiện nay đã bỏ địa đi đâu làm gì không rõ địa chỉ, vì vậy đề nghị tách ra xử lý riêng theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu. Đối với việc Nguyễn Thị Bé H yêu cầu những hụi viên đã hết hụi, gồm: Cao Thị Ng, Đặng Văn L, Nguyễn Thanh Ch phải trả lại số tiền hụi đã hốt, tuy nhiên hiện nay những hụi viên này đã bỏ địa phương đi chưa làm việc được nên tách ra giải quyết sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.

Người bị hại bà Lâm Thị Ng, bà Võ Thị Th, bà Lê Thị Đ, bà Mai Thị Kh, bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị Th, chị Nguyễn Hồng Thúy, chị Phan Thị Thùy N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt những người bị hại là phù hợp theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bé H khai nhận: Bị cáo có đứng ra tổ chức áp hụi và làm chủ hụi từ năm 2013, do làm chủ hụi trong một thời gian dài nên bị cáo và tất cả các hụi viên đều có mối quan hệ thân thiết, đều chơi hụi của bị cáo nhiều năm nên những dây hụi áp sau này hụi viên thường không đến xổ hụi đầy đủ. Từ đó, lợi dụng sự tín nhiệm và tin tưởng của các hụi viên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối nhiều lần ghi khống tên một số hụi viên để chơi hụi trong 10 dây hụi nêu trên và kêu giá cao hốt hụi của hụi viên nhằm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các hụi viên với tổng số tiền là 295.740.000đ (Hai trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi ngàn đồng) cho đến khi số tiền bị thâm hụt ngày càng nhiều, bị cáo tuyên bố bể hụi và nợ lại tiền của các hụi viên chưa trả được.

Bị cáo cho rằng sỡ dĩ bị cáo lừa đảo là do bị cáo làm ăn thua lỗ, thiếu vốn, nợ tiền vay và do có nhiều hụi viên hốt hụi nhưng không đóng hụi chết lại cho bị cáo nên dẫn đến bị cáo mất khả năng thanh toán cho những bị hại khác, việc bị cáo ghi tên khống hốt hụi nhằm tràn lắp cho những hụi viên đó và lấy tiền trả nợ nhưng bị cáo không nhớ rõ số tiền những tay em còn nợ lại bị cáo là bao nhiêu và trong số những tay em bị cáo kể tên những bị hại có mặt tại phiên tòa xác định những người bị cáo trình bày không có nợ bị cáo như bị cáo trình bày.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của VKSND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Lẽ ra, khi ngưng hụi vào tháng 4/2016 bị cáo tuyên bố bể hụi và dừng việc gom hụi thì số tiền bị cáo chiếm đoạt dừng lại ở đó. Nhưng sau khi hụi dừng được 4 tháng đến tháng thứ 5 thì bị cáo tiếp tục lừa đảo bằng cách tổ chức khui hụi lại và sau khi gom hụi của các hụi viên bị cáo không giao tiền lại cho các hụi viên đã hốt mà bị cáo chiếm đoạt hết rồi tuyên bố bể hụi và bỏ trốn. Từ đó, cho thấy mục đích của bị cáo cố tình lừa đảo chiếm đoạt bằng được tiền của các hụi viên.

Từ những cơ sở trên, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bé H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo là người có đầy đủ năng lực, nhận thức và biết rằng “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật. Thế nhưng, trong quá trình làm chủ hụi, bị cáo đã lợi dụng sự quen biết và tín nhiệm của các hụi viên nhiều lần cố ý dùng thủ đoạn gian dối ghi khống tên một số hụi viên để chơi hụi trong 10 dây hụi nêu trên và kêu giá cao hốt hụi nhằm chiếm đoạt số tiền là 295.740.000đ (Hai trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi ngàn đồng) để chi xài cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của những bị hại và làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất của họ, gây bất ổn cho người dân và sự mất tin tưởng vào việc chơi góp họ của các hụi viên ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Nếu bị cáo biết tôn trọng pháp luật, không tham lam, vụ lợi thì hôm nay không phải đứng trước vành móng ngựa chụi sự nghiêm trị của pháp luật. Với hành vi phạm tội nêu trên, HĐXX nhận định cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS là “Phạm tội nhiều lần”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 ĐiÒu 51 BLHS; bị cáo có cha tham gia cách mạng và là thương binh ¾ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân tốt.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhâ ̣n để xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và những người bị hại thống nhất số tiền lừa đảo và số tiền hụi của các hụi viên đã đóng tính chung phần dân sự trong vụ án này. Vì vậy, áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt bằng 295.740.000đ và số tiền các hụi viên đã đóng cho bị cáo đến ngày bị cáo tuyên bố bể hụi bằng 331.166.000đ, tổng cộng là 626.906.000đ (Sáu trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm lẻ sáu ngàn đồng), cụ thể của các bị hại sau:

1/ Cao Thị Đ (Cô Nga) số tiền là:

10.350.000đ

2/ Nguyễn Hồng Tr (Chinh) số tiền là:

21.935.000đ

3/ Nguyễn Thị L (3 Liên) số tiền là:

41.810.000đ

4/ Nguyễn Thị L1 (5 Phông) số tiền là:

188.281.000đ (trong này có 50.000.000đ tiền hụi bị can mượn).

5/ Lê Thị Đ (7 Thi) số tiền là:

6.000.000đ

6/ Nguyễn Hồng T (Chị Bính) số tiền là: 22.310.000đ

7/ Bùi Thị T (Chú sắc) số tiền là:

15.270.000đ

8/ Trương Kim C (Ní Thanh) số tiền là: 16.390.000đ

9/ Phan Thị S (10 Sáu) số tiền là:

30.460.000đ

10/ Nguyễn Thị Thanh Ph (Tiếng) số tiền là:

3.690.000đ

11/ Lâm Thị Ng (Cà Thum, 2 Miên) số tiền là: 14.905.000đ

12/ Trần Thị S (6 Thù) số tiền là:

61.470.000đ

13/ Ngô Thị Dĩnh (9 Tiếp) số tiền là:

21.525.000đ

14/ Cao Hoàng Ph (Anh Phong) số tiền là: 28.825.000đ

15/ Mai Thị Kh (8 Kiều) số tiền là:

33.325.000đ

16/ Lê Thị N (Út Nhã) số tiền là:

13.920.000đ

17/ Trần Thị M (Lẳm Liệt) số tiền là:

3.495.000đ

18/ Lê Thị H (Hà) số tiền là:

3.690.000đ

19/ Nguyễn Thị Đ (7 Điền) số tiền là:

25.335.000đ

20/ Nguyễn Thị S (8 Phơ) số tiền là:

21.000.000đ

21/ Lê Thị L (2 Đỉnh, 7 Hoan, Út Quẫn) số tiền là: 21.730.000đ

22/ Phan Thị Thùy N (Nhi) số tiền là:

9.600.000đ

23/ Võ Thị Th (9 Thơ) số tiền là:

4.610.000đ

24/ Ngô Thị Đ (3 Đáp) số tiền là:

6.980.000đ

Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H 07 (Bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự. Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt bằng 295.740.000đ và số tiền các hụi viên đã đóng cho bị cáo đến ngày bị cáo tuyên bố bể hụi bằng 331.166.000đ, tổng cộng 626.906.000đ (Sáu trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm lẻ sáu ngàn đồng), cụ thể của các bị hại sau:

1/ Cao Thị Đ (Cô Nga) số tiền là:10.350.000đ (Mười triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng).

2/ Nguyễn Hồng Tr (Chinh) số tiền là: 21.935.000đ (Hai mươi mốt triệu, chín trăm ba mươi lăm ngàn đồng)

3/ Nguyễn Thị L (3 Liên) số tiền là: 41.810.000đ (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm mười ngàn đồng)

4/ Nguyễn Thị L1 (5 Phông) số tiền là: 188.281.000đ (Một trăm tám mươi tám triệu, hai trăm tám mươi mốt ngàn đồng).

5/ Lê Thị Đ (7 Thi) số tiền là: 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

6/ Nguyễn Hồng T (Chị Bính) số tiền là: 22.310.000đ (Hai mươi hai triệu, ba trăm mười ngàn đồng).

7/ Bùi Thị T (Chú sắc) số tiền là: 15.270.000đ (Mười lăm triệu, hai trăm bảy mươi ngàn đồng).

8/ Trương Kim C (Ní Thanh) số tiền là: 16.390.000đ (Mười sáu triệu, ba trăm chín mươi ngàn đồng).

9/ Phan Thị S (10 Sáu) số tiền là: 30.460.000đ (Ba mươi triệu, bốn trăm sáu mươi ngàn đồng).

10/ Nguyễn Thị Thanh Ph (Tiếng) số tiền là: 3.690.000đ (Ba triệu, sáu trăm chín mươi ngàn đồng).

11/ Lâm Thị Ng (Cà Thum, 2 Miên) số tiền là: 14.905.000đ (Mười bốn triệu, chín trăm lẻ năm ngàn đồng).

12/ Trần Thị S (6 Thù) số tiền là: 61.470.000đ (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).

13/ Ngô Thị Dĩnh (9 Tiếp) số tiền là: 21.525.000đ (Hai mươi mốt triệu, năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

14/ Cao Hoàng Ph (Anh Phong) số tiền là: 28.825.000đ (Hai mươi tám triệu, tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

15/ Mai Thị Kh (8 Kiều) số tiền là: 33.325.000đ (Ba mươi ba triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

16/ Lê Thị N (Út Nhã) số tiền là: 13.920.000đ (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng).

17/ Trần Thị M (Lẳm Liệt) số tiền là: 3.495.000đ (Ba triệu, bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng).

18/ Lê Thị H (Hà) số tiền là: 3.690.000đ (Ba triệu, sáu trăm chín mươi lăm ngàn đồng).

19/ Nguyễn Thị Đ (7 Điền) số tiền là: 25.335.000đ (Hai mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

20/ Nguyễn Thị S (8 Phơ) số tiền là: 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng)

21/ Lê Thị L (2 Đỉnh, 7 Hoan, Út Quẫn) số tiền là: 21.730.000đ (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng)

22/ Phan Thị Thùy N (Nhi) số tiền là: 9.600.000đ (Chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

23/ Võ Thị Th (9 Thơ) số tiền là: 4.610.000đ (Bốn triệu, sáu trăm mười ngàn đồng).

24/ Ngô Thị Đ (3 Đáp) số tiền là: 6.980.000đ (Sáu triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch số tiền là 29.076.000đ (Hai mươi chín triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), tổng cộng bị cáo phải nộp hai khoản là 29.276.000đ (Hai mươi chín triệu, hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, những người bị hại có mặt tại tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, ngày 26/11/2019.

Những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ