- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HS-PT Ngày 04-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thanh Bình
Bà Vũ Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2019/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện A2, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1978 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã A1, huyện A2, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị X (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Tại Bản án số 22/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2003 của Tòa án nhân dân huyện An Hải (nay là huyện A2), thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 11 năm 2018; có mặt.
- Bị hại: Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn B, xã B1, huyện A2, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T và chị Đỗ Thị H1 có quan hệ tình cảm nam nữ. Sau khi chị H1 chủ động chia tay, T bực tức, ghen tuông và phát sinh mâu thuẫn nên bị cáo đã gây thương tích đối với chị H1 hai lần cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 23 tháng 9 năm 2018, T gặp chị H1 ở quán gội đầu của chị Phạm Thị D ở thôn C, xã B1, huyện A2, thành phố Hải Phòng để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Khi nói chuyện tại quán của chị D, T hỏi chị H1: “Mấy hôm trước mày đi đâu?”, chị H1 trả lời: “Tôi đi đâu là việc của tôi”. Thấy chị H1 nói vậy, T cúi xuống nhặt 01 chiếc dép ném chị H1 nhưng không trúng. Tiếp đó, T đứng dậy cầm chiếc ghế gấp T đang ngồi cao 60cm làm bằng ống kim loại có đường kính 2,5cm đánh nhiều nhát vào đầu và người chị H1. Mọi người can ngăn, T bỏ đi, chị H1 được đưa đi Bệnh viện Việt Tiệp cấp cứu. Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 539/2018/TgT ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Đỗ Thị H1 bị vết thương nhỏ vùng đỉnh chẩm trái, không tổn thương nội sọ, không tổn thương xương sọ, đã được điều trị đang dần ổn định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhận do thương tích trên gây nên là 02%. Nạn nhân còn đau lưng, đau vùng khuỷu trái nhưng không tổn thương xương, không thấy dấu vết thương tích nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Ngày 30 tháng 10 năm 2018, chị Đỗ Thị H1 đã có Đơn đề nghị khởi tố hình sự đối với Nguyễn Văn T.
Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 10 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Văn T đến nhà chị Đỗ Thị H1 ở thôn B, xã B1, huyện A2, thành phố Hải Phòng để đề nghị chị H1 rút Đơn khởi tố nhưng chị H1 không mở cổng cho T vào nhà. Sau đó, Trong bỏ đi còn chị H1 sang nhà hàng xóm chơi. Đến 15 giờ cùng ngày, chị H1 đi về nhà thì thấy T đứng ở cổng, T yêu cầu chị H1 mở cửa để T vào nhà nói chuyện nhưng chị H1 không đồng ý. T túm tay trái chị H1 cắn 01 nhát nhưng không để lại thương tích, rồi T dùng tay trái rút trong người 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm đâm nhiều nhát về phía chị H1, trong đó có 01 nhát trúng vào lòng bàn tay phải chị H1 gây thương tích. Chị H1 bỏ chạy sang nhà hàng xóm là chị Phạm Thị Ch còn T bỏ đi. Sau đó, chị H1 được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện A2. Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 633/2018/TgT ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Trung tâm Pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Đỗ Thị H1 bị vết thương rách da ô mô cái tay phải và sang chấn xây xước dập da mặt sau cổ tay trái. Đã được điều trị tương đối ổn định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương ô mô cái tay phải gây nên là 02%. Xây xước dập da nhẹ sau cổ tay trái không đủ lớn để đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Vết thương ô mô cái tay phải có đặc điểm do vật sắc hoặc sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Ngày 12 tháng 11 năm 2018, chị H1 có Đơn khẩn cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn T về hành vi dùng ghế và dao gây thương tích đối với chị.
Tại Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện A2, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên sửa đổi một phần nội dung cáo trạng: Tại trang 2 của Cáo trạng xác định Nguyễn Văn T dùng tay phải rút dao khi gây thương tích đối với chị H1 nay sửa đổi lại là Nguyễn Văn T dùng tay trái rút dao gây thương tích đối với chị H1; rút việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo vì tình tiết này đã được xác định là dấu hiệu định tội đối với bị cáo ở hai lần gây thương tích cho chị H1; bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo vì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện A2, thành phố Hải Phòng đã căn cứ điểm c khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: "Cố ý gây thương tích". Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại: Bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Đỗ Thị H1 số tiền 12.900.000 (Mười hai triệu chín trăm nghìn) đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo Bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02 tháng 5 năm 2019, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do trong vụ án bị hại chỉ mất 4% sức khỏe; trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận ra khuyết điểm của mình, luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, giúp cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ nội dung vụ án.
* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ để xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong chuyện tình cảm giữa bị cáo và bị hại, bị cáo Nguyễn Văn T đã hai lần thực hiện hành vi gây thương tích đối với bị hại Đỗ Thị H1, cụ thể: Lần thứ nhất vào khoảng 08 giờ ngày 23 tháng 9 năm 2018, tại thôn C, xã B1, huyện A2, thành phố Hải Phòng, bị cáo T dùng ghế gấp làm bằng ống kim loại đập nhiều nhát vào đầu và người bị hại Đỗ Thị H1; lần thứ hai vào khoảng 15 giờ ngày 10 tháng 11 năm 2018, tại nhà chị Đỗ Thị H1 ở thôn B, xã B1, huyện A2, thành phố Hải Phòng, bị cáo T đã dùng dao bấm đâm vào tay phải chị Đỗ Thị H1. Mỗi lần bị cáo gây thương tích đều làm tổn thương cơ thể chị H1 02% và cả hai lần chị H1 đều có đơn đề nghị xử lý hình sự đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo phạm tội hai lần, có tính chất côn đồ và bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm khi thực hiện hành vi phạm tội nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm hình sự sơ thẩm số 19/2019/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện A2, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: "Cố ý gây thương tích". Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án số 19/2019/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện A2, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT I); - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện A2; - Cơ quan điều tra Công an huyện A2; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện A2; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện A2; - Toà án nhân dân huyện A2; - PV27 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |