vanban.org

Bản án 42/2019/HNGD — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và hia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Khanh + Dũng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và hia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 42/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 11 - 2019
V/v: “Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Mẫn và bà Nguyễn Thị Hoài Bão

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 247/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 10/10/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2019/QĐST – HNGĐ ngày 29/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị K; sinh năm 1983(có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc D; sinh năm 1975(vắng mặt)

Cùng địa chỉ: thôn A, xã E T, huyện C M, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị K trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Ngọc D có đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc tuy nhiên từ năm 2015 vợ chồng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh D thường xuyên uống rượu say về đánh đập vợ con dẫn đến năm 2018 chúng tôi đã ly thân từ đó đến nay. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng nhau nữa, mẫu thuẫn trầm trọng và kéo dài đã nhiều năm. Vì vậy, Tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar xem xét giải quyết cho tôi ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007, hiện nay các cháu đang ở với anh D. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc D A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc P A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn anh Nguyễn Ngọc D:

Tôi và chị Hoàng Thị K có đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Tôi và chị K chung sống với nhau không có mâu thuẫn, tôi đã mở quán cho chị K làm nghề và nuôi dạy con cái nhưng chị K không làm mà bỏ đi làm ở trên thành phố Buôn Ma Thuột, việc chị K nói tôi thường xuyên rượu say và hay đánh đập vợ con là không có. Nay chị K làm đơn là ly hôn với tôi thì tôi không đồng ý chúng tôi không có mâu thuẫn.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007, hiện nay các cháu đang ở với tôi. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu Nguyễn Ngọc D A và cháu Nguyễn Ngọc P A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tôi không yêu cầu tùy vào chị K.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị K vẫn giữ nguyên yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D. Về con chung các con có nguyện vọng với được ở với nhau nên tôi có nguyện vọng tiếp tục giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, tôi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con tùy thuộc vào điều kiện kinh tế. Về tài sản chung tôi không yêu cầu tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

- Đối với Thẩm Phán: đã thực hiện đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.

- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với đương sự:

Đối với nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K; Tuyên bố chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D. Giao cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007 cho anh Nguyễn Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị K không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị Kvà anh Nguyễn Ngọc D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hoàng Thị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền Tòa án:

Chị Hoàng Thị Khanh yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Anh Nguyễn Ngọc D đang trú tại xã E T, huyện C M, tỉnh Đăk Lăk. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Nguyễn Ngọc D vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K và anh Nguyễn Ngọc D có đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột trên cơ sở tự nguyện, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống từ năm 2015 đến nay giữa chị Hoàng Thị K và anh Nguyễn Ngọc D thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng, đời sống chung không hạnh phúc. Nay chị Hoàng Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D, xét yêu cầu của chị Hoàng Thị K là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình xác minh tại địa phương thì chính quyền địa phương không nắm rõ mâu thuẫn mâu thuẫn giữa anh D và chị K, thời gian gần đây anh D và chị K không còn ở với nhau, chị K đã chuyển đi nơi khác sinh sống.

Như vậy có thể thấy, hôn nhân giữa chị Hoàng Thị K và anh Nguyễn Ngọc D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Hoàng Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D là chính đáng cần được chấp nhận

Về con chung: Chị Hoàng Thị K và anh Nguyễn Ngọc D có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007. Hiện nay các cháu đang ở với anh D và anh D cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung. Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Ngọc P A và cháu Nguyễn Ngọc D A ngày 08/08/2019 thì các cháu có nguyện vọng tiếp tục được ở với anh D và không muốn chị em phải ở xa nhau. Tại phiên tòa chị Hoàng Thị K cũng đồng ý giao các con chung cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao các cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007 cho anh Nguyễn Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Hoàng Thị K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Hoàng Thị K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị K và anh Nguyễn Ngọc D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hoàng Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và hia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D

Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Ngọc P A, sinh ngày 13/01/2005 và cháu Nguyễn Ngọc D A, sinh ngày 01/4/2007 cho anh Nguyễn Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Hoàng Thị K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí hôn nhân và gia đình:

Chị Hoàng Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị K đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0014091 ngày 15/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ