vanban.org

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị O đối với ông Tạ Quang M.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Tạ Quang M. Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên không đề cập đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị O đối với ông Tạ Quang M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 11 năm 2019
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Thảo

2. Ông Nguyễn Thế Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 414/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 414/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1994. Địa chỉ: Nguyễn Hoàng, tổ 31 phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Tạ Quang M, sinh năm 1984. Địa chỉ: Nguyễn Hoàng, tổ 31 phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (văng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 24 tháng 7 năm 2019, bản tự khai

và trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị O trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Nguyễn Thị O) và anh Tạ Quang M xây dựng gia đình vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Trung quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng chúng tôi về chung sống với gia đình chồng tại tổ 31 (74 cũ) phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cho đến tháng 9 năm 2018 thì sống ly thân nhau, vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ và không quan tâm nhau nữa.

Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Tạ Quang M.

- Về con chung: Tôi (Nguyễn Thị O) và anh Tạ Quang M không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi (Nguyễn Thị O) và anh Tạ Quang M không có tài sản chung hay nợ ai.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Khê đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Tạ Quang M, để biết việc chị Nguyễn Thị O gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Tạ Quang M, nhưng ông M không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân quận Thanh khê đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều: 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Đối với các đương sự:

+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;

+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều: 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Việc bà Nguyễn Thị O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Tạ Quang M là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Tạ Quang M.

+ Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị O khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Tạ Quang M có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại Nguyễn Hoàng, tổ 31 phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng pháp luật.

- Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Tạ Quang M tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông M vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Tạ Quang M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị O và ông Tạ Quang M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với Tạ Quang M, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị O thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà O thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông Tạ Quang M không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau và từ tháng 09 năm 2018 vợ chồng đã sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do ông Tạ Quang M không hợp tác, điều này thể hiện ông Tạ Quang M không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị O đối với ông Tạ Quang M là thoả đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bà Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị O đối với ông Tạ Quang M.

Tuyên Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Tạ Quang M.

2.Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên không đề cập đến.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị O xác định không có nên đề cập đến.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị O phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Oanh đã nộp tại biên lai thu số 00050585 ngày 30/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Oanh đã nộp đủ án phí;

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ