vanban.org

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận anh Cao Minh P và chị Liêu Thị Mọi E là vợ chồng.

Về con chung: Do con chung đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, cũng không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận anh Cao Minh P và chị Liêu Thị Mọi E là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:42/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21-11-2019
V/v “Ly hôn giữa anh Cao Minh P
và chị Liêu Thị Mọi E”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Tuấn

Ông Thạch Qươne

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Thành Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Cao Minh P, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Chị Liêu Thị Mọi E, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Cao Minh P là nguyên đơn trình bày: Anh và chị Liêu Thị Mọi E chung sống với nhau vào năm 1994, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống anh và chị Liêu Thị Mọi E có một con chung tên Cao Diễm M, sinh năm 1995 hiện đã trưởng thành. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, chung sống không hạnh phúc, nên đã không còn chung sống với nhau khoảng 26 năm nay. Nay anh có yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Minh P yêu cầu ly hôn với chị Liêu Thị Mọi E.

Về con chung: do con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết

Về tài sản chung: Anh P không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Anh P khai không có.

Chị Liêu Thị Mọi E là bị đơn trình bày: Chị thống nhất với lời khai của Anh P về thời gian chung sống, về con chung và về nguyên nhân mâu thuẩn. Chị xác định vợ chồng đã không còn chung sống với nhau khoảng 26 năm nay, tình cảm vợ chồng cũng không còn nên chị đồng ý ly hôn với anh Cao Minh P.

Về con chung: do con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: chị Mọi E khai không có nợ ai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Minh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Liêu Thị Mọi E. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Về quan hệ hôn nhân: Anh P cho rằng anh và chị Mọi E mâu thuẩn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn trầm trọng, không có sự quan tâm chăm lo cho nhau, vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã không còn chung sống với nhau khoảng 26 năm nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Liêu Thị Mọi E. Đồng thời tại phiên tòa hôm nay chị Mọi E cũng xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, thời gian chị và Anh P không còn chung sống với nhau cũng đã quá lâu, nay chị cũng đồng ý ly hôn với Anh P. Do Anh P và chị Mọi E chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1994, mà không có đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử không thể công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Anh P và chị Mọi E được mà áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Anh P và chị Mọi E.

Về con chung: Anh P và chị Mọi E thống nhất con chung tên Cao Diễm M, sinh năm 1995 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, cũng không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc anh Cao Minh P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không công nhận anh Cao Minh P và chị Liêu Thị Mọi E là vợ chồng.

Về con chung: Do con chung đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, cũng không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc anh Cao Minh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005929 ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, Anh P đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Anh Cao Minh P và chị Liêu Thị Mọi E được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Trà Vinh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Cầu Kè;

- CC.THA-DS huyện Cầu Kè;

- UBND xã An Phú Tân;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

Dương Thị Trúc Linh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Qươne

Trần Quốc Tuấn

Dương Thị Trúc Linh

Cỡ chữ