vanban.org

Bản án 42/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Bình B đối với anh Lê Hữu T.

Buộc anh Lê Hữu T có trách nhiệm cá nhân trả lại cho ông Ngô Bình B số tiền còn nợ 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Bình B đối với anh Lê Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:42/2019/DS-ST
Ngày: 29-8-2019.
V/v tranh chấp hợp đồng vay T sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Minh

2. Ông Phạm Văn Liệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Không.

Trong các ngày 06, 21, 29 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay T sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2019/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Bình B, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Lê Hữu T, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn ông B có mặt tại phiên tòa, bị đơn anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2019, bản khai ngày 27/6/2019 của ông Ngô Bình B; Biên bản hòa giải ngày 27/6/2019, ngày 05/7/2019 và trong quá trình xét xử:

* Nguyên đơn ông Ngô Bình B trình bày: Vào ngày 27/5/2018 ông B có cho anh Lê Hữu T vay số tiền 10.000.000đ, lãi suất là 4000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn vay là 02 tháng, có làm biên nhận nợ, anh T có trả cho ông được 50 ngày tiền lãi là 2.000.000đ, đến nay anh T không có trả gốc và lãi cho ông, ông đã nhiều lần yêu cầu nhưng anh T không trả.

Nay ông Ngô Bình B yêu cầu anh Lê Hữu T trả lại số tiền vay còn nợ là 10.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

* Bị đơn anh Lê Hữu T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của ông B, cũng như tham dự phiên họp, hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh T về việc yêu cầu khởi kiện của ông B.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Bình B trình bày: Ông và anh T chỉ quen biết do có đi đàn hát đám chung với nhau, anh T vay tiền số tiền 10.000.000đ để làm gì thì ông không biết, lúc đầu vay tiền không có làm biên nhận, đến khi ông nhận tiền lãi 2.000.000đ, ông mới yêu cầu anh T làm biên nhận, biên nhận là do anh T tự viết và ký tên, chữ viết và chữ ký tên, ghi họ tên là của anh T, ông B cam kết chữ ký tên và chữ viết họ tên là do anh T viết, nếu sai hoàn toàn chịu trách nhiệm. Biên nhận không có ghi ngày tháng, cũng không có ghi thời hạn trả tiền vay, sau khi anh T đóng lãi được 02 tháng thì không đóng lãi nữa cho đến nay. Nay ông B yêu cầu anh T trả lại số tiền còn nợ là 10.000.000đ, không yêu cầu tính lãi suất, không yêu cầu điều chỉnh lãi suất theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Do tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân, anh T hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ Biên nhận không ghi ngày, ông B khởi kiện yêu cầu anh T trả lại số tiền còn nợ là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), vì cho rằng anh T vi phạm hợp đồng nên làm phát sinh tranh chấp hợp đồng vay T sản. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp Hợp đồng vay T sản phát sinh vào năm 2018, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

Về việc vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử xét thấy anh T đã được triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng anh T vẫn vắng mặt, không có lý do. Nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp cho anh T, ông Lê Văn Phệt là cha của anh T nhận thay và cam kết giao lại cho anh T, nhưng anh T không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, cũng như phiên tòa, đã chứng minh được bị đơn cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

[2.1.] Ông Ngô Bình B khởi kiện yêu cầu anh Lê Hữu T trả lại số tiền còn nợ là 10.000.000đ ( Mười triệu đồng) là có cơ sở chấp nhận, căn cứ vào biên nhận vay tiền không ghi ngày, việc ông B có cho anh T vay tiền là có thật đã xảy ra, anh T đã nhận đủ tiền, nhưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi. Từ khi nhận tiền vay cho đến nay anh T có trả được cho ông B số tiền lãi là 2.000.000đ, nhưng không trả số tiền vay gốc cho ông B, nên đã vi phạm hợp đồng vay T sản. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông B là có cơ sở chấp nhận nên buộc anh T trả lại số tiền còn nợ là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) cho ông B là phù hợp với quy định tại Điều 463, 468 BLDS năm 2015.

[2.2.] Yêu cầu đối với lãi suất: Trong quá trình hòa giải, cũng như tại phiên tòa hôm nay ông B không yêu cầu tính lãi đối với số tiền anh T còn nợ, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3.] Anh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, anh T không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện của ông B, cũng như cung cấp chứng cứ chứng minh về việc có nợ của ông B hay không, nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến hay yêu cầu của anh T đối với số tiền nợ nêu trên.

[2.4.] Đối với số tiền lãi 2.000.000đ ông B trình bày do anh T trả lãi đối với số tiền vay gốc, thời gian trả lãi là 50 ngày, anh T không có yêu cầu điều chỉnh lãi theo quy định pháp luật, cũng như khấu trừ vào số tiền vay gốc còn nợ, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

[3.1.] Bị đơn anh Lê Hữu T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

[3.2.] Nguyên đơn ông Ngô Bình B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 463, 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 26, điểm b, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Bình B đối với anh Lê Hữu T.

Buộc anh Lê Hữu T có trách nhiệm cá nhân trả lại cho ông Ngô Bình B số tiền còn nợ 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

- Anh Lê Hữu T phải chịu 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Ngô Bình B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông B toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số BH/2017- 0009364 ngày 12/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2019). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ